Tháng giêng rộng dài câu Quan Họ

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

Vườn hồng tàn lụi
                                      Truyện ngắn mi ni của Nguyễn Phan Hách

Nắng sớm chan chứa rọi trên vườn Hồng Nhung.
Ông Hen ri dạo quanh. Không tìm được bông nào đẹp. Giống Hồng Nhung thuần chủng này hoa thường to bằng vốc tay, đỏ chói. Ông Hen ri đã chăm bón hết cách nhưng sao vườn Hồng ngày một thoái hóa, xác xơ. Không thấy mùi thơm ngào ngạt bốc lên trong nắng sương ban mai...
Ông Hen ri già lão, run rẩy bước lò dò bên những luống Hồng còi cọt. Ngắt một bông, vò nhàu, nhựa  màu đỏ như máu dính vào tay.
 Đứng dựa  hàng rào, ông Hen ri ngắm gia trang của mình. Đồi xanh biếc, thông già phủ bóng. Tòa biệt thự mái đá đen có gắn hình Chim Ưng cổ trắng – biểu trưng của gia tộc Hen ri.
Trên bậc thềm chan chứa nắng kia, như còn bóng hình ông Uyn xơn – cha của Hen ri, oai phong lẫm biệt, cành tùng kim tuyến trên ve áo, đang nheo mắt kẻ cả nhìn cuộc đời...
Bà Julia trong nhà bước ra. Bà cũng già nua tàn tạ như chồng. Vết nhăn đan lưới võng trên gương mặt. Ánh mắt vô hồn. Lưng lòng khòng, tay chống gậy.
Trên trời có tiếng quạ kêu đỗ xuống ngọn thông. Bà Julia giơ gậy xùy xùy đuổi. Âm thanh tiếng quạ gàn quải.
Thằng con trai tật nguyền lò dò đi theo mẹ. Thằng bé, bốn mươi tuổi, vẫn là thằng bé, người phủ lông đen xì, đầu to bằng nắm tay, mồm rớt rãi chảy dòng dòng.
Ông Hen ri dắt thằng bé, âu yếm, vào dạo vườn Hồng. Ngắt cho nó những bông hoa nho nhỏ…
***
Mấy mươi năm trước, Hen ri là chàng lính Thủy quân Lục chiến  ở miền Nam Việt Nam. Còn ông Uyn xơn thì là sĩ quan Bộ chỉ huy cuộc chiến. Hai cha con đồng ngũ, phục vụ trong quân đội viễn chinh.
Ông Uyn Xơn được giao một nhiệm vụ đặc biệt. Miền nhiệt đới, cây lá quá rậm rạp, đối phương ẩn nấp trong bóng lá rất an toàn. Phải vặt trụi những chiếc lá nhiệt đới kia đi, đối phương lộ ra trống trải, mới dễ tiêu diệt. Ông Uyn xơn giữ trọng trách Tổng chỉ huy đội phi công đi rải thuốc khai quang, diệt cỏ, diệt cây lá, trên khắp miền Nam, để Việt cộng không có chỗ ẩn nấp. Việt cộng sống dựa vào rừng. Những sư đoàn bộ binh, xe tăng, đại bác,kho tàng  quân nhu… gì gì đều ẩn dưới bóng rừng hết. Máy bay Mỹ trên trời có mắt như mù. Phải làm thế nào xé toang tấm áo Rừng kia, lôi Việt cộng ra ngoài trần trụi.
Lúc nhận trọng trách, ông Uyn xơn không hề biết tác dụng gây quái thai qua nhiều thế hệ F1, F2, F3… của chất khai quang Điôxin màu da cam. Các công ty Hóa chất, sản xuất theo đơn đặt hàng của các “Tác giả Cuộc chiến” cũng mù mờ. Có thể biết, có thể không. Chỉ biết Cuộc chiến đang yêu cầu ,và lợi nhuận là trên hết.
Những chiếc máy bay dưới quyền của ông Uyn xơn cất cánh,  phun sương Đi ô xin trải dài như một tấm lụa đẹp mắt. Hạt Đi ô xin rơi xuống, chiếc là xanh giật thót, quằn lại,  diệp lục biến hóa, rụng ngay khi chưa úa vàng.
Điôxin rơi xuống rừng, núi, dải đồi, cánh đồng, làng mạc, sông suối, ngấm vào lòng đất, mạch ngầm, chảy ra các giếng nước.
Lần ấy đơn vị của Hen ri tác chiến trong vùng bị rải Đi ô xin. Cây lá trơ trụi. Việt cộng mất chỗ nấp. Đơn vị của Hen ri không bị phục kích, đã hoàn thành chiến dịch. Hen ri được thưởng Huân chương…
Hết hạn phục vụ quân đội, hai cha con Uyn xơn - Hen ri xuất ngũ, trở về Mỹ sống cuộc đời bình thường. Gia trang “Chim Ưng cổ trắng” thơ mộng. Đồi cỏ, Thông già, hoa Hồng khoe sắc. Hen ri lấy vợ, cô gái Julia xinh đẹp, hăm hở xây dựng chương trình hạnh phúc.
Đứa cháu trai đầu là niềm trông đợi của Uyn xơn. Dòng họ ông không hổ thẹn, bởi các thế hệ giỏi giang, kiêu hãnh. Cụ tổ nhà Uyn xơn - Hen ri từ một vùng đồi cỏ nuôi cừu  sản xuất len nào đó ở nước Anh cổ kính ,đã di cư sang châu lục mới mà Cô lôm bô tìm ra.
Họ đã phải vật lộn, để xây dựng nên trang trại này. Họ nuôi bò lấy sữa, học hành, tham gia chiến trận, đến đời Uyn xơn đã đến đỉnh cao binh nghiệp. Họ không ngần ngại, cho đứa con trai duy nhất sang Việt Nam chiến đấu. Dòng họ này phải ghi những trang sử anh hùng cho lịch sử.
Đứa cháu nội ra đời, sẽ nối tiếp mạch nguồn, dòng họ trường tồn mãi mãi với thời gian.
Ngày đứa cháu sinh, như tiếng sét giáng xuống giữa thanh thiên bạch nhật, bổ đôi gia trang “Chim Ưng cổ trắng”. Hình xác chim Ưng còn đó, mà hồn nó đã hoảng hốt bay đi mất. Đứa cháu nội người đầy lông đen, và đầu thì bé tẹo.
Y tế xét nghiệm kết luận đứa bé bị quái thai do di chứng chất độc Đi ô xin từ người bố bị nhiễm ở chiến trường Việt Nam.
Ông Uyn xơn và Hen ri đóng cửa trong nhà, gào thét một mình. Hai người quân nhân kiên nghị, cắt thịt không đau, giờ mềm nhũn ra.
Cuộc đời đã cử một Sứ giả sản phẩm của ý tưởng chiến tranh, ý tưởng tuyệt diệt nhân loại, đến hiện diện, nối tiếp cho dòng họ Uyn xơn- Hen ri.
Cuốn sổ tay của ông Uyn xơn - một kỷ vật chiến tranh, còn đây. Những dòng mật lệnh cho các chuyến phi cơ chở Đi ô xin cất cánh. Những chữ ký của ông. Chữ ký của thần hủy diệt sự sống. Chữ ký phỉ báng quyền sáng tạo sự sống của Thượng đế.
Thượng đế đã trừng phạt ông, tạo nên một mô đen hài hước, bi kịch: Ông nội hạ lệnh rải chất độc lên con trai, để sinh ra đứa cháu quái thai nối dõi dòng họ cho ông nội.
Sổ tay ông Uyn xơn ghi rõ: Tổng cộng số lượng chất độc đã rải là 80 triệu lít, trong đó chứa 366 kg Đi ô xin. Một giọt Đi ô xin tạo ra đứa cháu nội ông . Vậy 366kg Đi ô xin  tạo ra bao đứa cháu tương đồng như cháu nội ông?
Ông Uyn xơn chết vì già lão, chứ không phải vì ân hận. Nếu ân hận tội ác chiến tranh mà chết, thì thế giới đã sạch bóng chiến tranh từ lâu. Không. Chiến tranh vẫn có muôn vàn “lý do có lý” để xẩy ra.
Đứa cháu tật nguyền “lại giống” tinh tinh, mọc lông đen xì cứ sống trong nhà Uyn xơn - Hen ri - Julia như để chứng minh một ADN không hoàn hảo nào đó trong bản thân sự sống.
Hen ri là nạn nhân, nhưng tại sao Hen ri lại đeo súng đến Việt Nam . Hồn ông Uyn xơn cãi : Ông chỉ làm phận sự quân nhân trong guồng máy chiến tranh. Rồi đến Tổng thống cũng nói: Đó là Lô gic của chiến tranh gây nên, chứ đâu phải Tổng thống.
Vậy là Lô gic gây ra tội. Ai là tác giả Lô gic? Thượng đế ! Cuối cùng là tại Thượng đế.
Gớm chưa, con người gây ra tội ác tày trời, giờ lý sự loanh quanh đổ lên đầu Thượng đế…
* * *
Ông Hen ri lẩy bẩy cầm chiếc cuốc xi xáo gốc Hồng. Một con sâu bò nhoay nhoáy từ cành này sang cành khác và đớp những cánh hoa. Ông Hen ri không đủ nhanh nhẹn để đưa tay đuổi theo con sâu. Nó thoăn thoắt lẩn vào cành lá. Tay ông Uyn xơn bị gai hồng cào xước máu. Máu rỉ, đặc quánh, và cũng không có nhiều để tụ lại thành giọt.
Giống Hồng này, tổ tiên ông Hen ri đem từ quê hương Anh Quốc sang. Nó quý, đẹp nổi tiếng. Bao đời nhà Hen ri trồng nó, phục tráng giống, giữ gìn cho nó nở hoa đã mấy  trăm năm nay. Nó gần như là biểu tượng của sức sống gia tộc.
Nhưng đến hôm nay, vườn Hồng đã lụi tàn.
12/8/2014




ĐÌNH LÀNG
Tản văn
Nguyễn Phan Hách

Bao giờ cho đến tháng hai/ Cho làng mở hội gái trai ra đình / Trên thì trống đánh thậm thình / Dưới thời trai gái có tình với nhau…
Đức Thành hoàng cai quản phần hồn của cả làng. Nhưng trên đình cứ cúng bái linh thiêng, còn sân hội để người ta yêu nhau.
Sự hài hòa đáng yêu. Mồm vẫn phải nói: “Nam nữ thụ thụ bất tương thân”, nhưng thực tế không thể cách ngăn trai gái.
Sợ nhất thói đạo đức giả, cấm đoán khát vọng của con người. Một dân tộc đạo đức giả sẽ suy thoái ,vì con người không được là con người tự nhiên.
Đình xưa là tâm điểm của cả làng. Một công trình kiến trúc đồ sộ nhất, mỹ thuật nhất. Mái đao cong làm đình như cánh diều bay bổng. Đôi rồng từ trời xanh bay xuống đậu trên đỉnh nóc. Lớp lớp ngói bát ngát rêu phong. Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu… Nhìn mái đình lại liên tưởng đến tình yêu, chứ không liên tưởng đến phụng thờ. Con người vốn bản chất là như thế. Tình yêu là trên hết, là số một. Sau mới đến các thứ khác.
Đình làng, cửa võng sơn son thếp vàng rực rỡ. Phù điêu trạm khắc gỗ miêu tả cảnh sinh hoạt của người Việt xưa.
Tín ngưỡng phồn thực là điều có thật trong dân gian. Phồn thực tức là để sinh ra con người. Trên đời này còn gì thiêng liêng cao quý hơn việc tạo ra con người. Bởi thế dân mình đưa phồn thực lên thành tín ngưỡng phụng thờ.
Thờ ở đâu? Ở chỗ linh thiêng nhất. Trên chùa, và nơi thánh địa (ví dụ Mỹ Sơn). Linh ga bằng đá có rồng mây ấp (ví dụ Chùa Dạm) ngả bóng trên đài Yoni.
Vì vậy có đình làng có cả những bức trạm gỗ cảnh con trai con gái khỏa thân bên đầm sen. Chuyện không lạ. Trống đồng ngàn năm còn đúc nổi hình trai gái đè lên nhau. Khách tham quan bảo tàng hỏi: Hình gì đây. Cô thuyết minh ngượng ngùng đỏ mặt.
Có phù điêu đình làng còn dí dỏm bức tranh truyện “liên hoàn”. Cô gái   ra gánh nước. Chàng trai bóp vú cô bên giếng. Chàng trai khác ghen, lấy ống xì đồng thổi đạn đất sét vào đít. Ghen xưa chỉ thế thôi, chứ không bạo lực như bây giờ.
Có đình gần kinh đô cổ Vua Hùng, còn có Hội làng với nghi thức “linh tinh tình… phập”. Hoàng nam và Ngọc nữ cầm sinh thực khí sơn son thiếp vàng. Chiêng trống âm vang, khói trầm nghi ngút. Chủ tế ngân nga: “Linh tinh tình…” đến âm phập thì Hoàng nam, Ngọc nữ múa may, xáp lại cắm hai sinh thực khí vào nhau. Cắm chệch là năm đó cả làng sẽ mất mùa, dịch bệnh.
Đất cổ Bắc Ninh xưa có làng có Hội chen. Trong khi quan viên tế lễ nghiêm trang thì ngoài sân tắt đèn cho con trai con gái chen nhau. Khi đèn thắp lại, yếm đào con gái đứt dải vương đầy trên sân. Yếm không rơi, năm ấy “quan ôn” sẽ mò về làng, không khéo chết sạch!
Làng tôi, mấy bác nông dân thích làm vua quan nên Hội làng, đội mũ cánh chuồn, mặc áo thụng vàng, lọng che đầu, đi rước quanh làng. Ba ngày hội, mở toang cửa đình hát xướng thờ thần. Người thích nghe hát ,thì thần chắc cũng thích nghe. Cứ hơng bái cúc cung mãi, thần cũng chán. Gọi Ả đào ca trù xinh đẹp về đây hát. Đàn đáy tấm tưng, trống  chầu tom chát, phách nhịp giòn tan, ca nương mắt liếc đổ quán xiêu đình…
Quê tôi có một xã, cả làng làm nghề đi hát ca trù kiếm ăn ngày xuân. Các Văn nhân, nhà Nho thi trượt, tha hồ sáng tác  thơ cho ca nương ca trù “phổ nhạc”, biểu diễn.
Ngày thứ nhất hát Ả đào, thì ngày thứ hai sẽ là Hát chèo. Những Cô đào chèo mướn từ huyện bên, áo mớ bẩy mớ ba múa như đàn bướm. Câu hát Đào liễu véo von. Ngày giã hội, gọi phường tuồng làng Bắc. Làng ấy hát Tuồng cũng là nghề kiếm ăn. Diễn viên chuyên nghiệp đến mức thành tên gọi hàng ngày có phó đại từ kèm theo: Ông Thái sư Cù, bà Công chúa Bưởi… Những ông tướng Tuồng mặt đỏ râu dài, diễn những tích tuồng khái quát được hết mọi chuyện mưu bá đồ vương, tranh giành quyền bính của cả ngàn năm phong kiến bên Tầu.
Đình làng có hồ bán nguyệt ,cho thuyền rồng liền anh liền chị Quan họ giao duyên. Tiếng hát Quan họ đắm say ru cuộc đời vào trong giấc mộng.
Không có đình làng, không có hội hè, cả làng quanh năm chìm trong cuộc sống cằn cỗi buồn tẻ. Các Thành hoàng làng thường “bao dung” trong kỳ hội hè, nhưng bình thường thì oai nghiêm, kỷ cương, nề nếp. Kẻ nào bậy bạ sẽ bị Thành hoàng trừng phạt đến nơi đến chốn.
Cả làng thờ phụng Thành  hoàng, coi đó là đấng tối cao, là đối tượng để tin, để cầu mong phúc đức.
Thành hoàng thường là các văn thần, võ tướng có công với dân với nước, các triều đại đều có sắc phong.
Nhưng cũng có Thành hoàng vốn chỉ là dân thường có công tích gì đó với làng quê. Ví dụ là người đầu tiên đem nghề trồng dâu, chăn tằm, dệt lụa cho quê. Dạy nghề đục đá, khảm trai, đan lát. Nghĩa là nuôi sống các thế hệ mai sau. Những ông tổ nghề là Thành hoàng thiết thực nhất.
Có Thành hoàng công tích mơ hồ trong truyền thuyết: Có công kiện thắng Hà Bá, vì Hà bá mỗi năm bắt làng cống nạp bằng cách ném một cô gái xuống sông, nếu không thì dâng nước cho ngập lụt…
… Các “phúc thần” thần tích vẻ vang. Nhưng cũng có nhiều Thành hoàng chỉ là người đầu tiên lập nên làng.
Một làng nọ, vùng đất ấy xưa hoang hóa, có một ông tướng cướp, đến trú ngụ. Ông tướng cướp giải nghệ, khai hoang lập ấp. Thế là sau thành Thành hoàng. Vậy là làng thờ thần ăn cướp. Hội làng, đám rước mô phỏng một đám cướp, hô hoán reo hò…
Buồn cười hơn là có làng thờ Thành hoàng ăn mày. Một ông ăn mày đã lập làng, ăn mày các nơi về tụ bạ. Vậy là cả làng ấy có nguồn gốc là dân ăn mày. Nhưng họ chẳng tự ái, và không ai dám nghĩ đến việc thay đổi Thành hoàng.
Mấy trăm năm trôi qua mà họ vẫn thực hiện nghi lễ “hành hương ăn mày”. Sau tết, mỗi nhà cử một người, cha, mẹ, vợ hoặc chồng sắm bị gậy tỏa đi các nơi… ăn mày. Ăn mày thật sự theo   nghĩa đen, chứ không phải nghĩa bóng. Đến các nhà xin nắm gạo. Có “ăn mày viên” là người đàn bà trẻ xinh đẹp, ai cũng cho, một ngày thu hoạch cả mấy chục cân.
Hết tháng giêng, đoàn “hành hương ăn mày” theo nghi lễ , lại lục tục trở về nhà.
Cuộc “hành hương” gian khổ để tưởng nhớ công ơn tiên tổ. Huyện, tỉnh xuống bảo: Nên bỏ phong tục này. Nhưng người làng sợ Đức Thành hoàng trừng phạt…
Các Thành hoàng loại này không được các triều đại “sắc phong”. Đình làng không có biển “Mỹ tục khả phong”. Nhưng các làng chả cần. Xem ra các làng sợ Thành hoàng hơn sợ Vua…
                                                                                      20-8-2014

NÚI NGỌC MỸ NHÂN
Truyện ngắn mini
Nguyễn Phan Hách

Dải núi thấp nhô lên giữa cánh đồng, hình một người con gái bờ vai tròn trặn, đôi vú nhô lên, chân duỗi song song, vẫn được gọi là núi Ngọc mỹ nhân. Khi mặt trời chớm nhô phía đằng kia, bắn tóc lên vầng ánh sáng, soi hằn những đường nét mềm mại giữa trời xanh. Mặt Ngọc mỹ nhân hơi hếch lên, tưởng như đôi mắt sau giấc ngủ đêm đang chớp chớp vì ánh sáng chói dọi vào, và nàng tiên núi đang sắp ngồi dậy, xỏa mái tóc tung tóe trên mặt bằng châu thổ.
Những cảm xúc tưởng tượng kỳ lạ trước Ngọc mỹ nhân trong khoảnh khắc ban mai, hoàng hôn, đêm trăng… trong hơi gió đầu thu se se hay nắng mới tháng ba, đã trở thành một phần tâm hồn người dân vùng này.
Nàng tiên núi đã thành con dân của quê làng họ.
Truyền thuyết kể rằng thuở xa xưa ấy, ở làng này có một chàng học trò nghèo, ngày ngày ăn sắn ăn khoai nhưng đêm nào cũng thức cùng trăng sao để học bài.
Một hôm chàng đang ngồi bên ngọn đèn nhựa trám ngoài cửa sổ thì thấy một ngôi sao rơi xuống bên thềm. Ngôi sao hóa thành người con gái đẹp. Cô gái đến gần, da thịt nàng tỏa ra ánh sáng soi rõ từng hàng chữ trong trang sách Luận ngữ để ngỏ.
Thuở ấy, người, tiênquỷ đôi khi ở lẫn với nhau. Quê hương tiên ở trên trời, quê hương quỷ ở dưới âm phủ và quê hương người là mặt đất trần gian. Tiên và quỷ luôn thích thú cảnh đời trên mặt đất.
Cô gái ngôi sao - nàng tiên, bước đến gập trang sách của chàng học trò lại:
- Đêm nào từ trên trời nhìn xuống, em cũng thấy chàng ngồi bên ngọn đèn nhựa trám này. Em nhìn rõ từng chữ trong trang sách và đọc theo chàng. Em thấy chữ nghĩa trong đấy triết lý cao siêu thì cao siêu thật, nhưng nhiều khi viển vông, vô bổ, giả dối. Vậy chàng dùi mài để làm gì.
- Có học những trang sách này thì ta mới có kiến thức để dự các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, đỗ Nghè, đỗ Trạng.
- Chàng quên hết chuyện đời, chỉ lao vào khắc khổ học một mớ chữ viển vông. Đến khi đỗ thì đầu đã bạc, về già. Cả cuộc đời thanh xuân uổng phí. Em muốn cùng chàng hưởng lạc thú trần gian thời tuổi trẻ này, ngay hôm nay, và ngay bây giờ, chứ không phải ngày mai xa xăm.
Đời dưới trần gian thú vị lắm. Em ở tiên cung nhìn xuống rất thèm. Trên tiên cung chỉ chay tịnh có mây xanh, tiên nữ dong chơi đi ra đi vào,và múa hát. Múa hát suông mãi, cũng chán. Em muốn cùng chàng sống dưới mái tranh vàng, và ánh đèn nhựa trám này.
Chàng trai sung sướng mở vòng tay ôm lấy nàng tiên. Một cảm giác ngất ngây kỳ lạ của hạnh phúc dâng tràn.
Từ hôm ấy chàng và nàng tiên bắt tay xây dựng mái ấm. Nàng tiên trút bỏ bộ quần áo tiên có cánh, cất trong rương hòm, khoác bộ áo nâu thôn nữ lên người. Nàng tìm sự ham say vui thích từ việc vun trồng ngọn lá bông hoa trái quả trong vườn. Nàng thích thú với ánh lửa bập bùng chiều đông, mùi cơm mới tỏa thơm ngào ngạt.
Đêm đêm hai vợ chồng nằm ôm nhau trên chiếc giường ấm cúng, ngoài kia tiếng mưa rơi trên tầu tiêu lộp bộp, và trên vách, tiếng con thạch sùng tắc lưỡi.
Chàng nho sinh bỏ không dự kỳ thi Hương năm ấy. Sách vở dẹp vào một góc, ba gian nhà quá chật, mà hạnh phúc thì cần nhiều không gian để chứa đựng.
Một năm sau, đứa con trai kháu khỉnh của họ ra đời. Họ truyền tay nhau bế ẵm, ngây ngất ngắm nhìn đôi mắt thơ ngây trong vắt bầu trời của con…
Cái gì đã đạt được rồi thì sẽ trở thành bình thường. Sự lặp đi lặp lại của hạnh phúc bình dị sẽ thành chán nhàm.
Cuộc đời luôn cần những đột biến phát triển mới.
Chàng nho sinh sau mấy năm chìm đắm trong cảnh đời thường, bỗng giật mình hứng khởi cảnh “ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” vinh quy bái tổ của người khoa bảng.
Chàng lục lại chồng sách Tứ thư, Ngũ kinh… xếp xó lâu nay, để ngày ngày cắp đến trường đại tập của cụ Thám hoa trên phố Phủ. Còn nàng tiên, thì đêm đêm luôn ra hiên nhìn bầu trời thở dài, bồi hồi nhớ lại thời tiên nữ của mình.
Chàng nho sinh đi thi khóa ấy đỗ cử nhân, rồi vào kinh thi Hội, thi Đình đỗ tiến sĩ. Ngày vinh quy, người ta đến tìm vợ quan tân khoa để rước võng đào, thì không thấy đâu cả. Nàng đã mở rương hòm lấy bộ áo tiên có cách mặc thay cho bộ áo nâu thôn nữ, và bay lên trời, để lại lá thư tạm biệt người chồng. Nàng không thể đem theo đứa con giai, vì đó là một nửa cốt nhục của hạ giới trần gian.
Đứng trên đám mây ngũ sắc, nàng nhìn xuống con đường lầm bụi, trống giong cờ mở, biển vàng “ân tứ vinh quy” của chồng, nhưng lòng rửng rưng. Nàng phải về trời, múa hát với gió mây…
Nhập vào với những Vì sao Tiên nữ khác, nàng ngỡ ngàng một chút, rồi nhanh chóng hòa nhập. Nàng múa hát, du trong không gian xa thẳm, vô tận.
Điều tai hại là Thượng giới phát hiện ra tội trạng của nàng đã từng xuống trần gian hưởng thú vui hạ giới. Nàng không còn vẹn nguyên tinh khiết tiên nữ nữa. Da thịt nàng đã vẩn mùi nhục cảm.
Thượng giới quyết định đày nàng xuống hạ giới, biến thành một dải núi, đêm đêm ngửa mặt ngóng lên trời. Đó chính là dải níu Ngọc mỹ nhân nhô lên giữa vùng chân thổ.
12-9-2014

   RƠM  VÀ LÁ NGY TRANG
Nhng tháng năm đánh M
Máy bay gic trên tri
Súng phòng không chiến đu
Mnh đn như  mưa rơi

Ly gì che mnh đn
Ngi chut tng si rơm
Tay ai đan thành mũ
Qun hương đng ngát thơm

Em bé đến trường làng
Xòe mũ rơm vàng óng
Cô gái du má hng
Vành mũ rơm che nng

Che đn và che bom
Che chiến tranh tàn khc
Thi trang dân tc này
Đ vượt qua chết chóc



Thi trang ca thế k
Ai ơi nh đng quên
Trên vành chiếc mũ rơm
Cm ngy trang cành lá ...

Cy nh sc lá xanh
Che mt quân xâm lược
Em bé đến trường làng
Phi che mt đế quc

Lá xanh xanh bt dit
Vàng rơm sc nng vàng
Đt tri vn mênh mang
Mc đn bom gm rú ...

   20-3-2014
NGUYN PHAN HÁCH




NGÔI NHÀ ĐỒNG QUÊ
Tản văn
Nguyễn Phan Hách

Mái nhà lợp rạ vàng. Lợp hương đồng gió nội bốn mùa. Hương sữa lúa tháng 10 heo may rải đồng chim ngói bay về. Màu mưa sa mùa hạ trắng trời. Màu nắng mới đầu đông nhẹ bỗng rưng rưng. Tiếng chiền chiện trên đồng vỡ ải, và tiếng vạc kêu sương bảng lảng mịt mù, cùng cơn gió bấc rền rĩ…
Mưa như chải lược mái tranh vàng. Mưa nhỏ long tong trước hè. Tiếng mưa như tiếng đàn tranh.
Mái tranh che phủ hạnh phúc gia đình. Đêm đêm ánh đèn dầu ấm cúng và mùi mồ hôi thơm của người vợ trẻ.
Những con bướm trắng nhởn nhơ bay ngoài hiên ngằm ngặp nắng vàng bên chậu hoa nhú bông hồng đỏ.
Cánh cửa liếp tre hé mở, luồng ánh sáng ban mai ùa vào trên mái tóc ai buông lướt thướt. Ngôi nhà tranh cột kèo tre quấn quít, gió bão chả làm gì được những giằng néo hạnh phúc quê kiểng.
Chiếc ao trước cửa nhà như tấm gương để trăng soi. Trăng trên trời chỉ có một, chung cho khắp thế gian, nhưng vầng trăng dưới ao lại của riêng cho mỗi nhà.
Sao băng rơi xuống ao. Cả ao rực sáng thần tiên. Cô gái ra chỏa chân cầu ao, chỏa chân vào cả trời sao.
Bao quanh ngôi nhà là bức thành tre xanh cao vút. Mỗi cây măng như một đầu đạn tên lửa nhỏ xé đất, phóng vút lên trời vòm lá xanh, quấn quít giao cành đan dệt nên bức Thành Tre.
Bức thành lay động ngân nga trong gió hè nồm nam hay gió bấc đầu đông. Dặng tre quanh nhà thành chiếc Đại Phong Cầm, bốn mùa ngân nga khúc hát.
Chim Cu Cườm dặng tre trưa hè hòa với tiếng ru của người mẹ đang ru con trên võng nôi kẽo kẹt. Cột nhà nơi mắc võng mòn bóng lên màu quá vãng…
Ngôi nhà tranh, tường trình bằng đất đồi sỏi đỏ, dày cả xải tay. Đất dưới  nền, và đất vây quanh, nắng nực cuộc đời bên ngoài bị chặn lại. Trong này mát rượi. Ngôi nhà kín mít, sực nức mùi thời gian, ủ kín hạnh phúc ngất ngây.
Mái nhà tranh, bên sân, sớm mai mùi rạ rơm hoai mục, bốc lên cùng mùi cây lá trong vườn. Mặt trời trưa, chú gà trống gáy não nùng trên cành lựu đỏ, điểm nhịp tháng năm cho cuộc sống ngôi nhà đồng quê chuyển vận bốn mùa…

10/2014
KHĂN QUÀNG TƠ SEN
Tản văn
Nguyễn Phan Hách

Mùa hè, anh chèo thuyền đi khắp vùng Sen chọn những cọng Sen xanh.
Cây Sen bẻ đôi, tơ trắng vương lướt thướt. Anh bện những sợi tơ lại. Mỗi cọng Sen chỉ được một đoạn ngắn.
Anh rút tơ Sen từ ngàn ngàn cây Sen, nối lại, được một cuộn tơ. Rồi anh đan dệt nó thành chiếc khăn quàng. Chiếc khăn trắng muốt, nhẹ tênh, như mạng nhện, thơm nức hồn quê.
Anh ra Bưu điện Hàng không gửi chiếc khăn cho cô gái - người yêu của anh đang ở Matxcơva.
Ngày trước, anh và cô, đêm chia tay ngồi bên đầm Sen, cô nói:
- Anh đan cho em chiếc khăn choàng bằng tơ Sen gửi sang cho em nhé! Quàng nó, em có cả hương đồng gió nội trên vai. Bên ấy, tuyết rơi lạnh lắm, khăn Sen làm ấm áp trái tim em.
- Còn em, hãy xâu những hạt Tuyết Đầu Mùa thành chiếc vòng long lanh. Ngày về, đem về cho anh nhé. Chiếc vòng là biểu tượng của sự trinh trắng, nguyên vẹn tinh khôi - Anh nói:
Hai người cười khúc khích làm những bông hoa Sen thức giấc.
Cô lên máy bay, bay về xứ Phong vàng Tuyết trắng. Người ta cho cô làm thợ dệt. Ngày ngày cuộn nắng trên mười đầu ngón tay, dệt nên những tấm lụa vàng. Cô bảo cô sẽ dệt một chiếc thảm lụa trải dài từ xứ Phong vàng Tuyết trắng đến xứ Hoa Sen cánh trắng nhị vàng ,để bắc cầu cho anh sang…
Ở quê nhà, anh đợi. Ba mùa Sen anh mới đan dệt được chiếc khăn. Cô đi trên đường phố, chiếc khăn quàng trắng muốt thơm nức hương Sen, làm cả Matxcơva phải ngắm.
Nhưng cô không xâu được những hạt Tuyết Đầu Mùa của Matxcơva thành chiếc vòng để tặng anh. Và vì vậy cô không thể về.
Bao giờ xâu được chiếc vòng ấy thì cô mới về…
                                                                                      25-8-2014

HOA TRÊN SA MẠC
Tản văn
Nguyễn Phan Hách.

Sa mạc đến ngọn cỏ cũng chả có ,nói gì đến hoa.
Vậy mà sa mạc Atakama Chi Lê khô cằn bậc nhất thế giới lại có hoa. Không phải thưa thớt vài bông mà là một rừng hoa. Bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu bông hoa. Muôn hồng ngàn tiá rực rỡ như cảnh thần tiên.
Tất cả các đài truyền hình trên thế giới đều chiếu cảnh sa mạc nở hoa này. Cả thế giới biết không ai bịa tạc được.
Hoa tím, hoa vàng, hoa đỏ,…thảm hoa trải dưới gầm trời.Trong khi trước đó thì nơi này  chỉ là cát bỏng mênh mông. Con bò cạp bò được vài bước đã chết cháy khô queo giữa đường.
Chả nhẽ các đài truyền hình hùa nhau lừa bịp cả thế giới. Lừa để làm gì? Mặc dù một số đài truyền hình cũng có tính hay lừa…
 Là vì thế này.
Năm nay trái đất có hiện tượng khí hậu En ni nô. En ni nô làm cả thế giới điêu đứng. Lụt tràn qua những thành phố vĩ đại nhất ,chìm ngập cả nền văn minh trong bể nước hoang dại.
En ni nô gây bão tố lay động bốn phương trời.
Mặt đất châu Phi hạn hán nẻ toác. Sư tử hổ báo cũng đành chết gục trong nắng khát, để lại bộ da phơi trong cát bụi.
En ni nô làm giữa mùa hè có tuyết rơi quái đản.
Và ở sa mạc Akatama thì En ni nô làm mưa rơi! Mưa vàng, mưa bạc .Những giọt mưa trong vắt ngọt lịm đền bù cho những hạt cát nóng bỏng đã ngàn năm.
Trong tầng sâu dưới cát có những hạt hoa. Hạt hoa có từ bao giờ. Nào ai biết. Như hạt cỏ đấy. Ai gieo cỏ đâu mà chỗ nào cũng thấy cỏ mọc.
Hạt hoa  ở Atakama cũng vậy .Nó bị vùi sâu dưới lòng đất từ thủa nơi này chưa thành sa mạc. Tưởng nó thối chết hết rồi, hóa ra không phải. Hóa ra không gì giết được các mầm sống trên đời. Chỉ một trận mưa, các mầm hoa thức dậy và nở bừng muôn mầu. Đời có bao sắc màu thì hoa nở đúng như thế.
Hết En ni nô, sa mạc lại trở về sa mạc. Hoa héo tàn và lại thành cát bụi, tan biến, hư vô.
Hóa ra, sức sống diệu kỳ ở đâu cũng có. Chẳng qua vì sự khốc liệt của môi trường đè nén mà nó đành chịu. Có cơ hội là nó vùng lên, thể hiện cho đời biết bản sắc của mình. Anh là người hay triết lý.Mọi triết lý, nhân loại tìm ra hết rồi, có còn tý nào đâu nhường cho anh phát hiện.
Nhưng anh cứ triết lý .Hoa ở sa mạc Atakama chính là ta đấy.Ta bị vùi dập, che lấp.           Cho ta một trận mưa En ni nô, sẽ biết thế nào là ta.
Nhưng anh bỗng giật mình. Trong khi ta nở hoa thì xung quanh En ni nô bão lụt mưa giông trái mùa, hủy diệt kẻ khác.
Có thể nào như thế được không.Không. Không thể. Vậy phải triết lý như thế nào đây…
Ngày 23 tháng 8 năm 2014