Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2012
Con
trâu
Tôi là một con trâu
Thả rông trên mặt đất
Cỏ đồng xanh ngăn ngắt
Thế là đủ sống rồi
Chẳng cần quần áo mặc
Tôi có sẵn da trâu
Màu đen bóng bền lâu
Dai dày đến vĩnh cửu
Chẳng cần đến giày dép
Sẵn đôi móng thời trang
Lộp cộp trên đường làng
Chẳng bao giờ mòn gót
Cào xước vỏ quả đất
Lật tung những cánh đồng
Mồ hôi nhỏ dòng dòng
Cho lúa lên vàng rực
Nhưng không một hạt thóc
Đời chia phần cho tôi
Chỉ cỏ và cỏ thôi
Bờ hoang xin mời gặm...
Nguyễn
Phan Hách
19/1/2012
Cây
và Người
Đời người như cây lá
Thân cành đẹp biết bao
Máu trong ta đỏ thắm
Nhựa trong cây dạt dào
Không mắt ai nhìn thấy
Rễ dầm trong đất sâu
Sợi non tơ lặn lội
Chắt chiu chút mỡ màu
Phải trổ muôn ngàn lá
Xòe hứng khắp bốn phương
Lấy từng tia nắng ấm
Nuôi thân cành sức vươn
Con người cũng lặn lội
Chả khác gì cây xanh
Mới có được cuộc sống
Những tháng năm yên bình
Một ngày cây trổ hoa
Rực sắc hương trời đất
Từ đâu không ai biết
Từ không, thành sắc hương
Từ không bỗng thành có
Thứ quý nhất trên đời
Hoa chính là vật thể
Tình yêu của Con người
Sau mùa hoa thắm tươi
Là đến mùa kết quả
Quả là mùa chồng vợ
Và con người sinh sôi
Thời gian vèo qua trôi
Thân cành mang sắc úa
Con người như cây lá
Cũng biến thành hư vô
Cây nằm trên mặt đất
Người nằm dưới đất sâu
Lại lên mầu đất sẫm
Cho rễ mầm mùa sau.
Nguyễn
Phan Hách
10/1/2011
Ca
dao vui
Rau đay
Rau đay nghèo rớt mồng tơi
Hai nhà đều rớt đều rơi đều nghèo
Còn anh rau rút ao bèo
Chân không bén đất ra chiều giầu hơn...
11/5/2011
Trầu cau
Có chàng trai trẻ Quả Cau
Yêu cô thôn nữa Lá Trầu biếc xanh
Vệt vôi trắng xóa tác thành
Cho duyên cho số cho tình đỏ au
10/5/2011
Cà cuống
Có anh Cà cuống đến ngang
Đề ra lý thuyết ương gàn lạ thay
Ngất nga ngất ngưởng đời này
Chết gần đến đít còn cay xè xè...
12/5/2011
Đám cưới
Tháng năm đám cưới ve sầu
Bướm hồng phù rể, đưa dâu: bướm vàng
Trẻ con là lũ chuồn chuồn
Lấy tơ nhện trắng đón đường chăng dây.
8/5/2011
Nguyễn
Phan Hách
Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012
Linh tinh tình… phập
Tản văn
Nguyễn
Phan Hách
Ông đồ Nghệ đến dậỵ học ở làng Trung du gần
kinh đô của các Vua Hùng thuở trước. Con gái ông, cô bé Hồ Xuân Hương xinh đẹp,
thông minh, tý tuổi đầu đã biết đọc sách, làm thơ. Đêm nay, hội làng, cô bé náo
nức đi dự. Sân đình mênh mông, đèn nến tắt hết, dân làng đứng im hành lễ, đợi
chờ giây phút thiêng liêng.
Trong hậu cung đình, ông chủ tế chắp tay áo
thụng lam như chầu vua. Đằng sau là các ông bồi tế tay bưng lễ vật.
Nghi lễ tế thần hội làng Trung du này là một
nghi lễ kỳ lạ mà cô bé Xuân Hương từ miền Trung ra Đất Tổ được biết. Cô thích
thú theo dõi đã mấy năm nay…Giờ linh thiêng nhất đã tới. Khi ông bồi tế hô lên
ba tiếng: “Khởi chinh cổ” thì chiêng trống ngân vang. Từ hai bên cánh gà Hậu cung,
một đôi Hoàng Nam, Ngọc Nữ xinh đẹp bước ra. Chàng cởi trần đóng khố. Nàng yếm
đỏ, váy xắn cao. Tay chàng cầm chiếc sinh
thực khí nam sơn son thếp vàng. Và nàng cầm sinh thực khí nữ cũng đẹp đẽ, rực rỡ như thế. Gương mặt hai người
trang nghiêm. Giờ phút này họ là Thiên sứ, đầu tỏa ánh hào quang.
Tiếng hát thánh lễ của tốp nam tốp nữ ngân nga. Chàng trai và cô gái từ từ tiến
lại như đôi chim phượng chim công nhún nhẩy. Họ đi những bước ngự của mùa xuân.
Hai bộ sinh thực khí giơ cao trong đèn nến lấp lánh cho mọi người chiêm ngưỡng.
Một khắc trôi qua. Cả sân đính nín thở. Họ đợi chờ như đợi chờ thời khắc giao
thừa, bước chân năm mới chạm bậc thềm, đem theo cơn lũ linh khí của mùa xuân.
Ông chủ tế nghẹn ngào vì hồi hộp. Giọng ông
xa xăm mà âm vang xướng lên hiệu lệnh: “Linh…
tinh… tình… phập”. Khớp với hiệu
lệnh, khi câu “Linh tinh” vừa cất
lên, thì chàng trai lao cái sinh thực khí về phía trước, và khi câu “tình phập” vừa hạ xuống , thì nó cắm phập vào cái sinh thực khí nữ. Vừa
khớp vừa nhịp nhàng. Chậm một giây không được. Mà nhanh một giây cũng không được.
Chậm hay nhanh đều mất hết vẻ mầu nhiệm
của nghi lễ. Nếu hai cái sinh thực khí
mà cắm trượt, thì là tai họa tầy đình cho cả làng năm đó. Các cặp vợ chồng
sẽ muộn màng trong việc đẻ đái, bụng đàn bà khó khăn mà chẳng có mang. Ghê hơn
nữa là làng sẽ bị quan Ôn, quan Dịch mò đến không biết chừng. Nhẹ nhất là mất
mùa đói kém, nhiều người phải đi ăn mày. Đấy, quan trọng thế đấy. Vì vậy khi
cái câu “Linh tinh tình phập” cất lên, cả làng đứng tim để nhìn cảnh hai cái
sinh thực khí cắm trúng vào nhau. Run tay cắm chệch, hai Hoàng Nam, Ngọc Nữ có thể bị dân làng xô vào lôi ra đánh.
Hai bộ sinh thực khí làm bằng “thần mộc”,
là báu vật vô giá của làng. Nó có từ đời nào, không ai biết. Nó mang hồn của
người đầu tiên đến đất này sinh cơ lập nghiệp và trở thành Thành hoàng của
làng. Nó là linh vật đầy quyền năng, được thờ đã mấy trăm năm. Từ nó như tỏa ra
ánh sáng kỳ ảo của lẽ tạo sinh huyền bí trên thế gian này. Người làng trông thấy
nó là cúi đầu xuống, chắp tay lễ. Chỉ dám nhìn trộm mà không dám nhìn thẳng. Chạm
tay vào nó là hồn xiêu phách lạc vì sợ, vì kính cẩn…
Mỗi năm một lần tế lễ, bộ sinh thực khí mới
được đem ra rửa bằng những giọt sương hứng từ hoa sói, hoa cúc, hoa nhài.
Bộ sinh thực khí ngự trên cao cho dân làng
lễ bái. Hoàng Nam, Ngọc Nữ phải ăn chay
nằm mộng cả tháng giời, xa lánh phàm trần.”Linh
tinh tình… phập”, khi đã “phập” xong rồi, thì giống như là hạt mầm đã gieo, sẽ
sinh nở muôn vàn tươi tốt cho thế gian. Mưa xuân rắc xuống mặt đất. Hoa đào bừng
nở. Bướm vàng bay, chim vàng anh hót, cuộc đời bừng dậy sự sống… “Linh tinh
tình… phập”, dân làng chắp tay cúi lễ cái giờ phút ấy. Vì từ đó phúc lộc sẽ ban
xuống như mưa cho đời họ. Họ sẽ con đàn cháu đống, lúa má đầy nhà. Nghĩ cho
cùng dân làng có lý lắm, nếu không có “tình phập” thì thử hỏi có thế gian này
không. Ngừng “tình phập” tất cả thành hư
vô. Cho nên cái nghi lễ Hội này có ý nghĩa lớn lao nhất. Có gì lớn lao hơn là sự
sinh nở ra cuộc sống…
“Linh tinh… tình phập” cô bé Hồ Xuân Hương
dù đã đến tuổi cập kê, xinh đẹp, nhưng
là dân “ngụ cư” nên không bao giờ được chọn là Ngọc Nữ thực hiện nghi lễ. Cô chỉ
đứng xem. Nhưng cái phép nhiệm màu của nghi lễ đã biến thành dòng chẩy vào tâm
hồn cô, để tạo nên dòng thơ phồn thực Việt Nam bất hủ của Bà Chúa Thơ Nôm nổi
tiếng khắp thế giới sau này…
Đại Yên 1/2/2012
(Viết dựa theo các sự kiện
có thật: Hội làng Trám – Phú Thọ và thời thơ ấu Hồ Xuân Hương từng ở đây)
tho
Hồ Man hoang dại
Truyện
mini
Thuận đem vợ từ phố Rêu miền núi về thị xã ở. Đường rừng heo hút, chỉ có tiếng gà gô đưa tiễn. hai vợ chồng khoác hai
tay nải lầm lũi bước. Non trưa, nghỉ chân bên hồ Man, ăn cơm nắm với trám muối. Đang mùa hoa Mua nở bạt ngàn, Thuận ngắt hoa Mua làm thảm trải cho vợ ngồi
khỏi lấm quần.
Hồ Man hoang dại, nước xanh biếc, sóng vỗ
ì oạp vào bờ đá. Cây rừng ngả cành sát mặt nước, tạo nên những vòm sâu hun hút
như lối xuống thủy cung. Vài con thiên nga nhởn nhơ bơi lội đuổi nhau ràn rạt
trên mặt hồ.
Nóng quá ,vợ Thuận cởi quần áo lần theo những
bậc đá ướt rượt xuống tắm, để rũ sạch bụi xứ rừng ,trước khi đến phố hội.
Rừng hoang chẳng có ai qua nên Thủy hoàn
toàn trần truồng. Nắng soi vào da thịt sáng lóa lên. Thuận sung sướng nhìn tấm
thân nõn nà, đẹp như tượng đá trắng của vợ. Trước khi Thủy bước xuống hồ ,Thuận
còn kéo lại, ôm ấp, hôn hít.
Thủy nằm trên thảm hoa Mua tím, mắt khép hững
hờ, đôi vú nhô lên sáng lóa, cánh tay ngọc ngà uể oải gối lên đầu.
Thuận ve vuốt từ bờ vai đến gót chân Thủy.
Thủy đứng dậy trần truồng đi uốn éo một vòng cho chồng ngắm, rồi nói:
- Thôi nhé.
- Ừ, thôi, em xuống tắm đi.
Thủy nhoài người
lao xuống làn nước trong vắt, vùng vẫy, bơi về phía những con thiên nga. Những
con thiên nga chả sợ, chúng vẫn lượn lờ. Thủy cũng như một con thiên nga khổng
lồ lượn lờ cùng với chúng.
Thuận gom đống quần áo của vợ trên thảm
hoa Mua, vắt lên cành cây. Anh biết Thủy sẽ còn tắm lâu. Ở phố Rêu, cạnh nhà,
cũng có một chiếc hồ nhỏ, và Thủy cũng thường bơi
vòng quanh không biết mỏi. Nàng bơi giỏi, và thích vẫy vùng với mặt nước trong
xanh.
Thuận kệ cho vợ tắm, anh đi lang thang dạo
chơi, chờ đợi. Rừng trưa mùi quả chín tỏa hương thơm nức. Hoa phong lan trên
cành cổ thụ rực rỡ. Lấy một nhành đem về thị xã làm kỷ niệm xứ rừng cũng hay.
Thuận trèo. Những con chim ríu rít, xập xòe bay qua đầu anh. Chúng quá đông,
nên áp đảo. Rồi Thuận phát hiện ra một đõ ong rừng ,mật trong như hổ phách. Anh
leo cao chuyền cành, quyết hái bằng được.
Một tay xách tổ ong, và chùm phong lan,
tay kia bám thân cây tụt xuống, khi Thuận
chạm được đến đất, thì người xây xát, mặt đỏ bầm nốt ong châm. Nhưng Thuận vui
thích vì nghĩ đến giây phút Thủy sẽ được kề môi vào hớp những giọt mật ong ngọt
ngào…
Khi Thuận ra đến bãi hoa Mua, thì vẫn chưa
thấy Thủy lên bờ. Bất giác nhìn ra mặt hồ Man thấy nó đen ngòm rờn rợn. Và khi
anh gọi to: “Thủy ơi”, thì cả đàn thiên nga giật mình vỗ cánh ràn rạt bay lên.
Những con thiên nga to lớn cất mình trong không trung xanh biếc, xa dần…
- Thủy ơi…
Mặt hồ vẫn yên lặng.
Hình như lúc nãy, mặt hồ trong xanh, có sóng rì rào. Sao bây giờ mặt hồ đen
ngòm, câm lặng, và rộng mênh mang đến lạnh người.
Thuận bắt đầu gào to rồi khóc rống lên. Từ
sau những bờ vùng tối om bóng lá, không thấy bóng Thủy ra.
Thuận xục xạo vòng quanh hồ, vừa chạy vừa
gọi. Những con chim rừng đang ríu ran, im bặt, chăm chú, lo lắng cùng Thuận. Mặt
hồ không có cả một vết tăm cá. Nắng trưa đỉnh đầu soi xuống mênh mang.
Thuận thấy những hàng cây bờ hồ chao đảo.
Rừng hoang, vắng hoe, không một bóng người. Biết nhờ ai bây giờ. Suốt buổi trưa, Thuận lội quanh ven hồ vừa khóc vừa
gọi một cách tuyệt vọng .Tiếng anh vọng vào rừng cây, vách núi âm âm u u, rồi dội
lại lan trên mặt hồ. Chim rừng câm bặt nhường cho tiếng gọi của anh vang xa. Tưởng như tiếng gọi có thể vọng xuống
được tận dưới thủy cung, vậy mà vẫn không thấy tiếng Thủy trả lời…
…Dân quanh vùng, cho đến mấy chục năm sau,
luôn khẳng định rằng: Hồ Man có những chỗ rất sâu, nước lạnh buốt, người con
gái ấy đã chết đuối. Dòng nước đã cuốn
cô mắc vào các búi rễ ngầm dưới lòng hồ, nên không tìm thấy xác.
Nhưng ông già Thuận thì bảo rằng: Không phải.
Vợ ông không chết đuối. Nàng bơi giỏi lắm. Hồ Man chưa là cái gì với nàng. Nàng
có thể bơi cả vài chục vòng quanh hồ. Nàng không chết đuối, mà là nàng đã biến
thành một con Thiên nga, hòa vào đàn thiên nga bay lên trời. Chứng cớ là lúc
nàng xuống tắm, ông nhìn thấy có chín con thiên nga, nhưng khi ông thốt gọi,
thì thấy rõ ràng là mười con bay lên…
Ông già Thuận mắt lòa, chân chậm sống trong
một ngõ hẻm thị xã. Thuở trước ông là chàng trai phố Rêu xứ rừng, số may lấy được
một người vợ quá đẹp. Hai vợ chồng chuyển về thị xã sống… Nhưng giữa đường…
Ông già Thuận gìa rồi chết. Hôm đưa đám,
có một vòng hoa vô danh, không biết của ai, từ nơi nào xa xôi gửi đến. Rồi một
ngày kia, dân quanh hẻm thị xã rộ lên một tin đồn: Vợ ông Thuận ngày xưa, chẳng
chết đuối, mà cũng chẳng biến thành thiên nga bay đi. Bà ấy chê chồng, bơi xuống
hồ, lẩn vào vòm cây, trốn ông ấy, bỏ ông ấy… Trần truồng, lấy lá rừng che thân,
bà ấy sau tìm về thành phố. Vòng hoa viếng vô danh kia chính là của bà ấy…
Đại Yên 6/2/2012
Nguyễn Phan Hách
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)