Tháng giêng rộng dài câu Quan Họ

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

PHIÊN TÒA  X T TRIT HC
                                                       Tùy bút thơ
Trong phòng x án
Nhng quan tòa
                            Đi tóc gi
Nói nhng li gi ngôn
Kết ti  Xô crát
                         Nhà triết hc thành Aten
Vì đã làm lung lay nim tin
Vào thế gii thn thánh
Làm sói mòn sc mnh
Trt t Aten hin hành
Dám dy hc trò
  Hãy tư duy bng b óc ca mình
Tranh lun đ tìm ra chân lý     
Đi thoi và suy nghĩ
Chân lý nguyên sơ
Không phi bao gi
Cũng ph thuc vào k mnh
Năm trăm người Hi đng thm phán
280 phiếu kết ti
220 phiếu không
S chênh lch –ti ác ca “s đông “...
Xô crát có mt con đường thoát
Là t b triết hc
Cun xéo khi thành Aten
Nhưng chàng đã nói ngang nhiên :
“S tht còn quan trng hơn c s sng “
Phán quyết cui cùng
Triết hc phi ung mt cc đc dược
*
D phiên tòa , ngi chết lng trong phòng
Có người  hc trò tr tui Platon
Đã tám năm hc thày Xô crát
Hc trò gt nước mt
Nhìn thày
Chén đc dược trên tay
Ung c
Cai ngc
Dt triết hc đi mt vòng
Véo th vào đùi ông
Xem đùi có tê di
Triết hc chết hay chưa  ...
*
Platon thành kính tôn th
Nn triết hc Xô crát
(my ngàn năm sau phương Tây hin đai
Vn ly phương pháp tư duy đ tìm chân lý ca ông
Làm hòn đá tng Nguyên tc giáo dc)...

Ni tiếp chí thày
Không th đ triết hc
                                      Đu hàng ngã gc
Trước bo lc cường quyn
Platon li m trường mở lớp
Trong khu vườn A ka đê mi
Khám phá thế gii  diệu kỳ
Bn cht , quy lut cuc sng
Hc trò ca Platon
Có A rít tt
Hc thày hai mươi năm
Triết hc phát trin không cùng
Gia thích thế gian nhân loi
Đnh cao mi thi đi
Xô crát, platon,Arí t tt
Ba tr ct ca nn văn minh thu xưa
Tên khu vườn A ka đê mi
Danh t đã thành tính t
Vin Hàn lâm trên toàn thế gii

*
Nhưng than ôi triết hc
Phng có ích li gì
Bi người hc trò thế h th tư
Là Alếch xăng đơ rơ –Thái t
Arít tt đã dy
T khi Thái t tui mi mười ba
Bao nhiêu là triết hc cao xa
Arít tt truyn cho cu bé
Nhưng khi lên ngôi Thiên t
Alếch xăng chinh pht khp nơi
Trong mười hai năm tri
Chiếm hơn na thế gii
Triết hc rơi vương vãi
Sau vó nga trường chinh xâm lăng
   3-8-2014
NGUYN PHAN HÁCH





                     

GIẢI CỨU
        Truyện ngắn
của Nguyễn Phan Hách

     Tôi nhận trách nhiệm của Công ty Du lịch thực hiện chuyến lữ hành cho nhóm Cựu binh Mỹ. Từ sân bay Nội Bài tôi đưa họ về khách sạn Sôphiten Hồ Tây. Buổi chiều đưa họ đến địa điểm di tích nhà tù Hỏa lò. Nhà tù Hỏa Lò xưa chiếm cả một khu rộng lớn phố Lý Thường Kiệt, giờ còn lại một góc nhỏ tượng trưng, nhường đất xây khách sạn Tháp Hà Nội nguy nga đồ sộ.
Giắc xi - người khách già nhất, là phi công Mỹ ném bom miền Bắc, bị bắn rơi năm 199X, từng bị giam ở nhà tù Hỏa Lò. Bây giờ trở lại, lòng bồi hồi khó tả. Người quay phim tư liệu của Đoàn chộp được những khuôn hình sống động khi Giắc xi, bước xăm xăm vào quá khứ.
- Trời ơi, không còn những gian phòng mà chúng tôi đã ở ngày xưa. Đây chỉ là không gian tượng trưng. Tiếc quá. Khách sạn thì xây chỗ nào chả được. Di tích nhà tù thực dân Pháp xây từ ngày xưa, mới là quý báu vô giá, làm bảo tàng chứ.
Giắc xi đứng như ngây dại. Hà Nội hôm nay nắng thu vàng rơi, mênh mang, lòng Giắc xi xao xuyến.
Giắc xi đến đây, năm ấy đã ngoài 40 tuổi. Người anh hùng trẻ trung lái máy bay Đồng minh đổ bộ lên Noóc măng đi, đuổi phát xít Đức, vinh quang ngày xưa, giờ là tù nhân lặng lẽ trong bốn bức tường bức bối. Người phi công từng tung hoành trên bầu trời Địa Trung Hải xanh lơ rượt bọn quạ sắt Chữ Thập ngoặc, số phận run rủi thế nào mà giờ phải bó gối trong các cấu kiện xi măng ngột ngạt, mà chủ nghĩa thực dân cũ dựng lên, trong phong trào phương Tây thời đại cơ khí, nô nức đi xâm lược phương Đông thủ công.
Giắc xi xua tay không nghe lời thuyết minh bảo tàng. Ông cần không gian yên tĩnh để hồi tưởng…
Đứng cạnh Giắc xi là Xpenxơ trẻ hơn, nhưng tóc râu cũng trắng xóa, cũng là phi công thượng hạng của không lực Hoa Kỳ, lái trực thăng phản lực. Xpenxơ không bị tù ở đây, nhưng lại có kỷ niệm về sự thất bại ê chề tuyệt vọng trong trận giải cứu không thành trại tù binh Mỹ ở Sơn Tây. Đồng bộ, thêm Ôoen, anh lính biệt kích đi trên trực thăng của Xpenxơ, đi giải cứu trượt năm đó.
Ba anh lính về già, sống nhiều bằng hoài niệm, rủ nhau tìm “cảnh cũ người xưa”....
Sau nhà tù Hỏa Lò, mục tiêu tiếp là trại tù Sơn Tây. Chiếc Lanhcugiơ của Công ty Du lịch vượt mấy chục cây số qua cầu sông Tích đến địa điểm Xã Tắc (xóm Cầu Cộng - Trung Hưng - ngoại ô thị xã).
Buổi sớm mùa hè, vừa qua trận mưa đêm, vẻ hoang tàn của di tích trại tù Xã Tắc xưa càng gợi cảm xúc.
Những bức tường rêu mốc, trơ trụi ,của dẫy nhà mất mái chạy dài. Những bụi cây dại, bãi trống cỏ hoang, đường sỏi, thấp thoáng vài đoạn thép gai hoen rỉ.
Có gì buồn bằng cảnh phế tích   trại tù. Đây đúng là trại tù chính hiệu. Nó  xây lên để giam thường phạm. Sau năm 1965 được sửa sang để giam phi công Mỹ. Cuộc chiến tranh leo thang bắn phá hậu phương miền Bắc của Mỹ ngày càng ác liệt. Miền Bắc đâu chịu để lũ giặc trời hoành hành. Khắp nước, các trận địa cao xạ pháo, các dàn tên lửa mọc lên như nấm. Máy bay Mũ sau này thống kê lại trong suốt thời chiến tranh phá hoại, đã bị rơi vài ngàn. Phi công Mỹ tử trận. Số còn lại, vài trăm, bị bắt sống khi nhẩy dù .Trại Sơn Tây được thành “Khách sạn Hin Tơn” đón phi công. Hỏa Lò đã quá tải. 70 vị Pi lốt  Pi gia ma (Phi công mặc quần áo ngủ) được chuyển từ Hỏa Lò lên đây một đêm giá lạnh cuối năm 1968…
… Đoàn cựu binh Mỹ đứng ngẩn người trước phế tích hoang vu . Xpenxơ và Ôoen thì lăng xăng đi lại xác định vị trí mà ngày xưa họ đã hạ trực thăng, đổ bộ.
Ông Bạng, nhà ven đường, cạnh trại tù, người chứng kiến trận tập kích đêm 20-11-1970, giờ tự nguyện thành người “hướng dẫn du lịch nghiệp dư”. Ông thích làm việc này, có đoàn nào đến, là ông lăng xăng kể chuyện.
- Lúc đó tôi là chú bé con- ông Bạng nói - Nghịch l giời, l đất, táo tợn không biết sợ là gì. Ngày nào tôi chả loanh quanh khu vực này. Nó được rào chặt, biệt lập, có tháp canh, xe quân sự bịt kín ra vào lặng lẽ trong đêm. Dân làng nghĩ chắc là  kho hàng quân sự. Biết đâu lại là trại tù  phi công Mỹ .Nếu biết có phi công Mỹ, thể nào tôi cũng lẻn vào xem mặt. Chỗ nào tôi chả  đột nhập được. Tôi có thể leo qua cả cái tháp canh kia. Tổ chim sáo trên ngọn cây , tôi còn trèo  vắt vẻo.
Ông Bạng cười khà khà, phì phèo điếu thuốc Giắc xi vừa mời.
- Tôi chính là một phi công được chuyển từ Hỏa Lò lên đây - Giắc xi chỉ vào ngực. Tôi phiên dịch lại. Ông Bạng mở to mắt cười khoái chí ,vì gặp nhân chứng. Ông thường rất tự hào vì nhà mình gần trại tù ,và chứng kiến cuộc giải cứu không thành của Mỹ năm ấy.
Giắc xi nói:
- Ngồi trong xe kín mít, trời tối như bưng, từ Hỏa Lò đi, đêm ấy, tôi không thể nào phán đoán được hướng di chuyển. Chỉ biết xe chạy gầm gừ, xóc nẩy, không xa, rồi bị tống vào một căn phòng. Mới đầu tôi tưởng bị giam biệt lập, sau thấy được ra sân trại giao lưu với các bạn tù, được tập thể dục, tự nấu ăn lấy, đọc sách báo,… Ở đây toàn các anh hùng đi mây về gió cưỡi Người nhà trời (AD.6), Thần sấm (F.105), Con ma (F.4), Thập tự quân (F.8), Kẻ đột nhập (F.6), Ngôi sao chiến đấu (A.104), Cướp biển (A.7), Chim ó nhà trời (A.4)… bây giờ về đây lủi thủi nhìn nhau sượng sùng, chán chường, tuyệt vọng.
Chúng tôi được ăn uống không đến nỗi nào. Có bánh mì, rau xanh, thịt bò, dứa, chuối…
- Tiêu chuẩn ăn của các ông hồi ấy gấp 14 lần tiêu chuẩn của cán bộ chúng tôi đấy - Tôi đế vào.
Giắc xi gật đầu:
- Xin cám ơn – Ri cười - Nhưng dù có ăn hơn thế nữa, thì chúng tôi cũng chỉ mong thoát khỏi nơi này. Chúng tôi được đi lao động, xúc  đất, san nền... xây dựng nhà ăn, bể nước, khu vệ sinh. Trong lúc làm, nẩy ra ý định lợi dụng cơ hi này. Nhìn lên bầu trời, thỉnh thoảng có máy bay trinh sát không lực Hoa Kỳ bay qua, tôi biết họ hoàn toàn có thể chụp được những bức Không ảnh chi tiết về nơi này. Thế là chúng tôi bảo nhau ngầm trình bày các tín hiệu, xin giải cứu, báo cho Sở chỉ huy ở nhà. Những rãnh đào, đống đất , đống gạch được đổ hình khác thường, gợi tả các thông tin gây chú ý. Quần áo tù phơi trên dây thép ngoài sân được gấp tạo thành các chữ viết tắt SOS (cấp cứu), K (hãy đến cứu), SAR (tìm và giải thoát …).
Những việc làm tưởng như vô ích ấy, nhưng hóa ra đã góp phần nào cho Bộ chỉ huy ở nhà, sau những tháng năm phân tích hàng núi thông tin, bằng nhiều biện pháp khác nhau của ngành tình báo gián điệp,năm 1970, họ đã xác định được vị trí trại giam Xã Tắc này.
Chúng tôi nằm trong tù, ngày này qua ngày khác, lòng chán chường, nhưng không khi nhen nhóm hy vọng. Trại giam trống trải giữa đồng, những vòng canh gác không lấy gì làm dày đặc. Các trạm đồn trú của quân đội không ở sát nách. Vị trí chơ vơ này, trực thăng biệt kích Mỹ có thể đột nhập. Trong chiến tranh thế giới thứ Hai, máy bay Đức đã giải cứu được Mutxôlini khi bị giam, và nói chung những chuyện tượng tự như thế thường xuyên xảy ra.
- Tôi được tuyển chọn vào Đội Giải cứu với sự tự kỳ vọng mình sẽ  là người anh hùng.  tôi đã quả thật dũng cảm tài ba , khi lái chiếc trực thăng khổng lồ HH-53 đậu xuống được  sân tại tù  Xã Tắc này-
Xpen xơ nối tiếp câu chuyện - Càng trực thăng vướng dây thép, cánh quạt dài 62 bộ băm nát các ngọn cây, cuối cùng đụng một thân cổ thụ, và bổ nhào. Tuy vậy trực thăng  đã tiếp đất . Và đội biệt kích do anh Ôoen đây dẫn đầu đã lao xuống, thọc được vào các phòng giam…
Nhưng thôi, để có giây phút này,  tôi phải nói lại những gì đã diễn ra trước đó .Hồi ấy, tôi đang là ngôi sao với bao huyền thoại về thành tích bay hàng ngàn giờ cùng nhiều  cuộc giải cứu phi công phản lực bị bắn rơi ở Đông Nam Á.
Tôi được triệu tập về trên tinh thần tình nguyện. Có mặt toàn những tay lái siêu hạng. Có người từng lái HH3 bay một mạch từ New york sang Paris. Có người là sĩ quan huấn luyện bay của chương trình Apolo.
Chúng tôi tập trung tại một căn cứ ở Phờloriđa, tập dượt. Họ dựng mô hình nhà tù tỷ lệ 1/1 như thật, đúng từng chi tiết có được từ các bức Không ảnh.
Đoàn bay được xác định là phải tránh được trạm các Ra đa phát hiện, tránh đòn của hệ thống pháo Phòng không dày đặc ở Bắc Việt. Vì vậy phải tập  bay ngoằn ngoèo bên sườn các dãy núi đá nhọn nhấp nhô. Bay thấp, bay  đêm, có khi xà xuống  sát ngọn cây. Lại phải bay ép  tốc lực, cực kỳ nguy hiểm. Chỉ cần sai sót một chút là va quệt, rơi tan xác.
Các toán biệt kích được tập luyện đổ bộ trên sa bàn, làm đi làm lại thuộc lòng như cháo chẩy…
… Ôoen có lẽ là người trẻ nhất trong nhóm du lịch. Gương mặt hầm hố, trông anh giống một cầu thủ bóng đá hết thời, cố níu kéo phong độ cũ. Ôoen chỉ Xpenxơ:
- Tôi “vinh dự” được chỉ huy tốp biệt kích ngồi trong chiếc HH.53 của anh Xpenxơ lái. Nhiệm vụ của chúng tôi nặng nhất. Các tốp khác triển khai chiến đấu xung quanh, trực thăng hạ ngoài bãi trống. Riêng HH.53 phải đậu xuống chính sân trại tù…
Gần đây, các anh xem ti vi, chắc có biết chuyện biệt kích Mỹ “xuất qu nhập thần” bay vào nước Pakixtăng giết trùm khủng bố quốc tế khét tiếng Bin la đen lập chiến công chấn động thế giới.
Họ giỏi như thế nào, thì thế hệ trước, trình độ chúng tôi cũng chẳng kém.
Xpen xơ vỗ vai Ôoen:
- Các biệt kích được tôi luyện xương đồng da sắt, thành “siêu nhân”, sức chịu đựng khác hẳn người thường. Không hiểu cái gì làm nên sự linh hoạt, dũng cảm như thế.
Ôoen trầm ngâm:
- Hàng trăm biệt kích tham gia vụ này, và muốn thành “người hùng” giống như “Người Nhện”, “Người Dơi” trong phim Hôlyút miêu tả... Tôi còn nhớ, sau một thời gian luyện tập, đêm 6-10-1970, là cuộc tổng diễn tập bắn đạn thật. Tinh thần anh em khí thế ngùn ngụt, chỉ lo vì lý do gì chiến dịch bị dừng lại.
Tôi được biết trong cuộc họp của Tổng thống Ních Xơn với các tướng ta, tổng thống đã hỏi:
- Có chắc chắn giải thoát được tù binh không?
Các tướng tá đã cam đoan chắc chắn.
Kế hoạch là tất cả sẽ chỉ diễn ra trong 27 phút là xong việc. Quanh Sơn Tây có tới 12 ngàn quân Bắc Việt đóng. Nhưng khi được báo động chiến đấu, cũng phải 30 phút sau mới đến kịp. Các sân bay quân sự Phúc Yên, Kép ...rất kém về hệ thống báo động, cũng như phương tiện kỹ thuật để chiến đấu ban đêm.
Xpen xơ bổ xung:
- Phụ trợ cho chiến dịch này Bộ chỉ huy đã hợp đồng với các đơn vị khác, để nghi binh. Hàng trăm máy bay từ các hạm đội ngoài khơi sẽ đánh phá dữ dội  ở Hải Phòng để hút sự chú ý của phòng không Bắc Việt về phía ấy, mà lơi là mặt trận Sơn Tây.
- Ngày 18-11-1970, chúng tôi được chở từ Mỹ đến phi trường Tắc li (Thái Lan), bay hết đúng một ngày một đêm. 6 giờ tối, toàn đội lúc bấy giờ mới được phổ biến sẽ đổ bộ vào sâu nội địa Bắc Việt. Trước đó chỉ biết tập trên sa bàn chung chung…
Xpen xơ hào hứng ôn chuyện:
- Đoàn trực thăng 5 chiếc lên đường lúc 23 giờ 18 phút ngày 20-11-1970. 2 chiếc C141 để trống, không tải, chờ đón 70 tù binh được giải cứu. Chiếc C130 với khí cụ bay đặc bit, với hệ thống hồng ngoại, dẫn đường. Tất cả lừng lững lao trong màn đêm.
Từ sân bay U đon, bay dọc biên giới Lào Việt , được tiếp dầu trên không, rồi ba giờ sau, vào đến không phận Bắc Việt. Trăng sáng lờ mờ. Tôi cho chiếc HH-53 hạ thấp độ cao cách mặt đất 150 mét. Sông Đà hiện lên lấp loáng, và lờ mờ hình núi Tam Đảo.
2 giờ 17 phút đến Xã Tắc, Sơn Tây.
Chiếc C130 bắn pháo sáng rực trời. Đoàn trực thăng xà xuống.
Chúng tôi nhìn rõ ba chiếc  tháp canh của trại tù. Súng Gát linh gắn bên sườn trực thăng nhả đạn. Tháp canh đổ xụp.
Đoàn trực thăng thả 100 lính biệt kích xuống các vị trí chiến đấu rồi đáp xuống bãi trống. Cánh quạt để thường trực quay tít. Như đã nói lúc nãy, tôi cho HH.53 đậu xuống chính sân trại. Đỗ xuống tiếp đất được tại đây là một thành công lớn.Suốt dọc đường chúng tôi đã không bị ra đa phát hiện, không bị pháo và tên lửa đánh chặn.
Ôoen cười khì khì:
- Đoàn biệt kích xả súng, giật mìn làm náo động cả một vùng. Còn nhóm của chúng tôi từ chiếc HH-53 trong sân trại, lao ra đập cửa các phòng giam, gọi loa: “Chúng tôi” là người Mỹ, chúng tôi đến giải cứu các anh…” Đáp lại, tất cả trống không. Các phòng giam hoang vắng, không một bóng người. Toàn khu trại, không một tiếng súng chống trả của quân Bắc Việt.
- Sục tìm tất cả các nơi.
- Có tìm thấy ai không?
 Chúng tôi quát gọi nhau.
- Báo cáo không thấy ai cả.
- Báo cáo không một bóng tù binh.
- Sục tìm lần cuối cùng trước khi rút.
- Lần cuối cùng.
- Kiểm soát xem còn sót nơi nào không?
Đèn pin quét loang loáng những căn nhà bụi bậm, ẩm mốc.
- Không tìm thấy một ai cả.
- Không tìm thấy một ai cả.
Tiếng báo cáo tuyệt vọng, đau đớn.
Cuộc tập kích đã diễn ra được 18 phút. Còn 9 phút nữa, phải rút theo kế hoạch, bởi cũng theo kế hoạch, 30 phút là đủ thời gian quân Bắc Việt quanh đây sẽ đến. Phải rút trước 3 phút.
Cuộc tập kích thật gan dạ, thật anh hùng, nhưng đã thành người hùng Đông ky sốt đánh nhau với cối xay gió. Thật khôi hài, nhục nhã, ê chề.
Trong lịch sử “biệt kích” chẳng có cú nào đau bằng cú này. Tốn bao công sức mà kết quả âm. Bao nhiêu “bộ óc chiếc lược” siêu việt của các tướng tá chóp bu, bao nhiêu năng lực của  hệ thống tình báo bậc nhất thế giới, bao nhiêu săn sóc lo lắng của Tổng Thống, bây giờ tất cả thành trò hề...
- Tôi cho kích hoạt phá hủy chiếc HH53 bằng thuốc nổ cài sẵn vì nó va quệt đã hỏng, không thể bay lên được nữa. Xpenxô nói - một tiếng nổ xé trời như là dấu chấm hết cho cuộc giải cứu vô duyên. Khắp nơi lính biệt kích chạy như vịt về các trực thăng ngoài bãi. 2 giờ 44 phút, đoàn trực thăng bốc lên.
Đúng thời hạn 27 phút. Hai chiếc C141 “không lấy được hàng”, rộng rênh, trở về. Chuyến đi hăm hở bao nhiêu. chuyến về ỉu xìu, tuyệt vọng bấy nhiêu.
Điện đài thông báo về Sở chỉ huy ở nhà kinh hoàng rụng rời cả Tổng thống…
...Ông Bạng, hiểu lõm bõm câu chuyện của nhóm cựu binh Mỹ qua lời tôi phiên dịch. Nhưng ông cần gì câu chuyện đó chính ông đã  được “mục sở thị” nó tại đây.
- Hôm đó tôi đang ngủ - Ông nói - Quá nửa đêm choàng thức dậy vì nghe tiếng cánh quạt trực thăng gầm rú như gió bão.
Mới đầu tôi nghĩ máy bay ta tập trận. Vùng đi Sơn Tây này hồi đó lúc nào chả có bộ đội đủ các binh chủng nườm nượp luyện tập. Pháo binh bắn đạn thật, nổ vang trời, nghe sướng tai. Bộ binh dàn quân. Xe tăng quần đảo, kém gì trong phim Vòng Cung Cuốc của Liên Xô ngày xưa.
Bây giờ đến trực thăng tập đổ bộ. Tôi dụi mắt, mở cửa liếp ra ngoài. Trước mắt, bóng những người cao lớn, đội mũ sắt xì xồ chạy đi chạy lại. Đạn xé lên. Pháo sáng rực trời. Không phải bộ đội mình. Tôi kinh hoàng nghĩ. “Kho hàng quân sự” của ta trong kia đã bị bỏ hoang nhiều tuần nay. Không còn bóng xe vào ra. Bộ đi canh gác đã rút hết. Chỉ còn mấy anh bảo vệ ốm yếu trông coi lấy lệ. Vậy thì biệt kích Mỹ đến đây làm gì.
Chiến dịch mà Tổng thống Mỹ hồi hộp đợi chờ từng giây từng phút ngày ấy hóa ra  kết quả chỉ thắng lợi là bắn chết được hai đứa trẻ con và một người đàn bà bên cạnh nhà tôi, đang nấp dưới gầm giường…
Còn tôi, cũng đừng hòng làm gì được tôi, vì sau khi biết được “ý đồ chiến dịch” của đối phương, tôi chạy vọt vào một bụi rậm. Từ “căn cứ chiến thuật” này, tôi phóng tầm mắt quan sát lính biệt kích hốt hoảng lên máy bay rút chạy.
Ông Bang cười vang. Cả đoàn cựu binh Mỹ cùng cười. Họ không tự ái. Chính họ cũng chế riễu cuộc tập kích.
Giắc xi chua chát:
- Đêm 20-11 ấy, chúng tôi bị giam ở một trại tù mi, chỉ cách Xã Tắc 15 cây số. Nghe những tiếng nổ chấn động từ Xã Tắc vọng đến, chúng tôi cay đắng chết lặng, gục xuống sàn khóc.
Trời ơi, sao đi lại trớ trêu thế này. Chỉ cách 15 cây số. Một cái nhún của trực thăng... Chúng tôi bị chuyển đến đây trước đó vài tuần. Không hiểu vì sao nửa đêm đùng đùng xe chở đi. Nhưng nào có đi xa. Vậy mà không ai biết. Hùng hổ đổ quân tập kích xuống chỗ không người. Bọn chỉ huy ở nhà ngu dốt đến thế là cùng.
Năm 1972 Bắc Việt biết trước cuộc tập kích B52 vào Hà Nội trước 3 giờ. Máy bay B52 ở Guam và Utapao được nạp đầy xăng vào giờ nào, Bắc Việt cũng biết. Thế cơ mà. Còn ở đây, cái trại tù lồ lộ giữa đồng không mông quạnh, mà bọn tình báo Mỹ lừng tiếng giỏi giang, không làm được trò gì. Một lũ  ăn hại...
Cuộc tập kích thất bại bộc lộ sự quan liêu, máy móc, kiêu căng, chỉ trông cậy vào kỹ thuật của cả hệ thống Mỹ  .“Không ảnh” ...ảnh thì vẫn đúng  thế đấy, nhưng cái gì bên trong ảnh đã khác rồi....
Sau này về Mỹ, ngẫm nghĩ, tôi rút ra một điều là lý do Việt Nam chiến thắng, một phần là nhờ đường lối “chiến tranh nhân dân”. Phía Mỹ, thiếu cái phần “nhân dân” kia, nên không có tai mắt, không ai bảo cho biết: trại tù đã chuyển…
… Một ngày tha thẩn ở di tích trại tù Xã Tắc, những người cựu binh Mỹ để cho nắng gió ở đây ngấm vào mình. Giắc xi còn nhặt một mảnh gạch vỡ, và khăng khăng đó chính là gạch từ  phòng giam ông  ngày trước. Ông nói sẽ về trưng bày trong tủ kính tư gia tại Mỹ. XpenxƠÔoen thì đi tìm cái gì là dấu tích của cuộc hạ cánh chiếc HH-53 . Không có gì cả. Một mẩu kim loại cũng không còn. Cuối cùng hai người nhổ một bụi cỏ  kẽ gạch sân trại, ép vào quyển sổ. Những ngọn cỏ xanh rờn phủ khắp nơi đây...
 Giắc xi cầm tay tôi, cảm khái:
- Tôi đã quá già, đã đi gần hết cuộc đời. Tôi đã sống trong lòng thế kỷ 20 cuồng phong bão lửa, thế kỷ mà qua đấy người ta có thể rút ra được những gì là chân lý cơ bản nhất của cuộc đời.
Chúng tôi là anh hùng, là có lý tưởng khi cưỡi máy bay đuổi đánh phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ Hai. Nhưng chúng tôi thật là vô lý khi đem máy bay đến dội bom trên đất nước Việt Nam hiền lành.
Năm 1973, được “trao trả tù binh”, về Mỹ, tôi thường ngồi Thiền và đọc sách. Tôi ngộ ra rằng loài người lắm cái vô lý thật. Vận dụng hết mọi sự tài ba ra đánh nhau. Mặt đất mênh mông, chúng ta cùng sống bên nhau dưới ánh mặt trời có phải tốt hơn không?
Chúng tôi hôm nay đến đây chính là góp thêm một tiếng nói cho chân lý ấy…
Đại Yên, 20-6-2014


HỒN CÂY
Tản văn
Nguyễn Phan Hách

Gia trang cố hương chúng tôi ở một niềm đồi có khe suối và vườn hoang đầy cây cổ thụ.
Một lần vào vườn hoang tôi tha thẩn dạo chơi đêm trăng, nghe chim đồi hót và tiếng suối chảy róc rách.
Soi bóng bên suối có một cây Liễu yểu điệu, lá rủ lướt thướt, bên cây Đào hoa nở rực rỡ và cây Hạnh vươn cành mềm mại như cánh tay thiếu nữ đang cầm những nhành hoa phớt hồng.
Đêm về khuya, ánh sương rơi bàng bạc, tôi thấy hồn ba cây chập chờn hiện  thành ba cô gái xinh đẹp.
Liễu có mái tóc lướt thướt.Đào có gương mặt tươi hồng, và Hạnh có màu da trắng như tuyết.
Ba cô nói thì thầm gì với nhau, tôi nghe không rõ. Một cơn gió mạnh ào qua, hình ba cô lại tan nhòa, chìm vào ba cây  Đào, Liễu,Hạnh bên suối.
Sáng hôm sau, dưới ánh sáng mặt trời chói chang, tôi lại vào vườn hoang. Ngắt nhành liễu, vò nhàu lá thấy mùi hương mái tóc con gái. Ngắt bông hoa Đào, hoa Hạnh thấy mùi phấn thơm trên má thiếu nữ…
Cuộc đời tao loạn, xô đẩy tôi phải đi xa biệt khỏi cố hương. Thời gian trôi, đến khi tóc bạc, tôi mới có dịp trở lại ngôi nhà rêu mốc, nấm mọc ngoài thềm. Khu vườn hoang xơ xác đi nhiều, nhưng ba cây Đào, Liễu, Hạnh vẫn còn, dù lá sắt lại, hoa cỗi cằn.
Tôi thức với đêm vườn, và nửa đêm, trong ánh sương rơi bàng bạc, tôi lại thấy hồn cây xuất hiện. Nhưng lần này là ba bà già tóc bạc, da nhăn.
Tôi buồn bã lại gần nói:
- Có lẽ nào cuộc đời ba cô gái trẻ đã phai tàn quẩn quanh trong khu vườn hoang này.
Ba bà già nói:
- Biết làm sao được. Chân chúng tôi là những rễ cây Đào, Liễu, Hạnh cắm chặt trong lòng đất.
Tôi nói với bà già cây Hạnh:
- Bà có biết ngày xưa nàng Dương Quý Phi đã bị ép thắt cổ chết trên cành cây Hạnh ở Mã ngôi. Và hồn nàng đã nở nên những bông hoa Hạnh rớm máu.
- Không. Tôi không biết. Đó là cây Hạnh ở xứ nào. Còn tôi, chỉ là cây Hạnh trong vườn hoang hẻo lánh này thôi…
Tôi chia tay ba bà già Đào, Liễu, Hạnh, mà mùi lá đã nhạt thếch, hình hài đã xác khô…
Tôi có việc lại phải xa cố hương. Một ngày kia, trở về ,tôi lại vào vườn hoang tìm gặp hồn cây Đào, Liễu, Hạnh dù biết họ đã già.
Tôi đến bên bờ suối. Bờ suối trơ trụi. Ba cây Đào, Liễu, Hạnh giờ chỉ còn là ba gốc khô nham nhở vết rìu chặt. Tôi đợi mãi, đợi mãi, không có bóng hình ai, ngoài bóng hình tôi với con suối chẩy rì rào…
23/10/2014



Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015


MÙA HOA DẺ
             


                Truyện mi ni của Nguyễn Phan Hách

  
Những năm máy bay Mỹ bắn phá, cơ quan tôi sơ tán ở vùng đồi Dẻ Nhã Nam - Yên Thế. Phong cảnh đẹp tuyệt trần. Những đồi thấp, la đà Dẻ cổ thụ. Suối nhỏ lượn quanh, Đập lớn xả lũ nước chẩy như thác, hồ lớn mênh mang.
Nhưng nói thật, đang ở thị xã tiện nghi, lại còn đang tuổi trẻ con, nên tôi vô cảm, chả biết thế là đẹp.
Vào mùa xuân, hoa Dẻ nở trắng vùng đồi. Bạt ngàn như tuyết. Tuyết hoa rơi lợp kín mái lều.
Vậy mà cảm giác của tôi cứ trơ trơ. Không hiểu được mùi thơm của nó. Hơn nữa, tôi nói thật ra điều này, thật 100%, đừng bảo nhảm nhí bịa đặt (nếu nói sai, cứ cho tôi cái tát - tôi thề như thế. Những người quê vùng Dẻ hãy lên tiếng chứng nhận. Văn chương được hư cấu, nhưng không phải là bịa láo). Rằng hoa Dẻ mùa nở mãn khai ,thoảng một mùi khó nói, giống như mùi lúc vợ chồng ân ái, sinh lực đàn ông tràn ra sực nức.
Đó cũng chính là lúc ong bướm ở đâu, bay về phủ kín, chúng hít nhụy từ mùi hương thần tiên ấy. Chỉ chúng mới cảm nhận được hương kỳ diệu này. Còn tôi, ngu như bò, “nhà thơ” chuyên làm thơ tán gái, nhưng không bằng con ong…
Tôi để ý chị Thương, chủ đồi Dẻ bên cạnh, cứ mùa hoa, là ra cắm cúi chăm bón. Mùa này mưa xuân tươi tốt, cây nó tự lớn, làm gì phải xới xáo. Chả có chủ đồi nào chăm sóc cây vào mùa này.
Chị ngồi đấy, ngắm nhìn những bông hoa Dẻ, hít nhè nhẹ hương thơm.
Tôi thường đến gần, chuyện trò cùng chị. Người nở nang, dễ thương, dễ gần. Thân quen rồi, có lúc chị đùa vuốt má tôi:
- Phinh phính non tơ thế này, con gái nó cáu lên ,nó cắn cho chẩy máu.
- Em cắn lại - Tôi cãi.
Chị Thương đã gần bốn mươi tuổi, chồng đi chiến đấu xa, đã hy sinh. Chị ở nhà, được làm Chủ tịch Hội phụ nữ xã, lúc nào cũng giữ tư thế đứng đắn, nhưng đôi khi hai má cứ tự nhiên đỏ hồng lên , đẹp như tiên…

Hoa Dẻ nở mùa xuân, suốt chín tháng sau - tương đương với thời gian đàn bà mang thai, mới kết quả. Đầu mùa đông, những hạt Dẻ nâu tuột khỏi lớp vỏ gai, rơi tí tách trong nắng hanh. Hạt Dẻ mang vị đất, hương rừng, gió xuân, nắng hạ, heo may đầu thu, nên có vị ngon bùi kỳ lạ.
Tôi thường ra nhặt hạt Dẻ hộ chị, đựng đầy trong giỏ. Nhóm chút than hồng, thả nắm hạt dẻ vào nổ lụp bụp, hai chị em ăn, má nhọ nhem nhọ thỉu.
Mùa Dẻ rụng đi qua. Rồi tết đến. Rồi mùa xuân. Và hoa Dẻ lại nở sực nức cái mùi mà ong bướm mê cuồng. Và chị Thương lại đến đó với mùi hương hoa Dẻ…
Bẵng  một thời gian, tôi đi công tác xa. Ngày trở về, một hôm đi qua bờ Đập đang xả lũ cuồn cuộn,  thấy chị Thương đang ngồi đó, trong bóng chiều chạng vạng. Bối cảnh thật đáng sợ. Một bên là một người đàn bà nhỏ bé, cô đơn, một bên là dòng thác lũ trào sôi…
- Trời ơi. Chị ở đây làm gì - Tôi kinh ngạc hỏi.
Chị Thương đứng dậy. Dáng người cao đẹp, nhưng vồng lên một vòng tròn lớn ở bụng.
Tôi há hốc mồm.
Đôi mắt chị Thương hình như đã cạn hết lệ, nên ráo hoảnh, và giọng cũng khê đặc:
- Em về đi. Mặc chị.
- Nhưng làm sao - Tôi ôm lấy vai chị khóc.
Chị cũng òa theo:
- Không còn cách nào khác nữa em ạ. Danh dự của chị…
- Danh dự cái gì ở đây - Tôi quát.
- Em ơi, chị khổ lắm!
- Không làm gì phải khổ. Hãy ngẩng cao đầu sống giữa cuộc đời này.
- Khôn ba năm, dại một giờ. Chị đã giữ gìn bao năm, chỉ một phút yếu lòng.
- Chẳng có yếu khỏe gì hết. Chị hãy đẻ con, nuôi con. Bố nó là ai? Bắt bố nó phải chịu trách nhiệm.
…Dòng thác vẫn sôi trào trắng xóa, rồi tan biến vào lòng hồ. Từ đây lao xuống, sóng sẽ vùi đáy sâu, rồi thả trôi ra bến bờ xa.

- Chị ngồi đây từ sáng đến giờ. Không có ai qua lại cả. Bao lần chị đã nhún chân  định nhẩy xuống, nhưng rồi lại ngã khuỵu, run lẩy bẩy. Chị thương con chị lắm. Nó có tội gì mà phải chết trôi từ khi còn trong bụng mẹ.
- Vớ vẩn. Chị đúng là sướt mướt vớ vẩn - Tôi gắt gỏng - Thế mà cũng đòi là Chủ tịch Hội phụ nữ. Hội phụ nữ là phải thương chị em chứ. Đi về ngay. Ngày mai đi nhặt hạt Dẻ. Năm nay Dẻ được mùa.
Tôi cầm tay chị lôi xềnh xệch, rất thô bạo. Chị trằn lại, nhưng không cưỡng được sức mạnh  của tôi…
Mùa xuân năm ấy, hoa Dẻ lại nở trắng như tuyết, bạt ngàn vùng đồi, và ong bướm lại bay về hít nhụy mùi hương kỳ diệu ấy.
Nhưng tôi không thấy chị Thương đến, giả vờ chăm sóc đồi Dẻ, để được ngửi mùi hương mà bướm ong mê đắm.
Tôi giật mình . Tôi thật quá vô tình. Hóa ra bao năm nay, chị Thương cũng giống như đàn ong, cứ mùa hoa Dẻ về là lại thầm lén đến đây…

22-1-2015


CÔ GÁI ĐẦM SEN

Ngày ấy Tuệ học trường Thành Chung trên tỉnh, xa nhà hơn mười cây số, phải ở trọ. Một lần về quê, tránh nắng, anh khởi hành đi bộ từ gà gáy tinh mơ.
Đường cái quan trải nhựa thẳng tắp, hai bên là hồ sen dài xa mênh mông đang mùa nở hoa. Tuệ đi giữa một rừng hoa sen trắng muốt vây bọc.
Sương sớm mù mịt. Gió nhẹ hây hây đem theo mùi sen thơm ngát. Đang đi, trong ánh trăng mờ, Tuệ thấy một cô gái từ đầm sen bên đường bước lên, người ướt đẫm, quần áo lụa trắng dính sát, lồ lộ đường nét cơ thể.
- Chào anh. Đường vắng quá, cho em đi cùng với.
Tay cô gái cầm một bó sen trắng. Không biết có phải hoa mắt không mà Tuệ nhìn thấy gương mặt cô gái cũng trắng gần như hoa. Tóc đen dài rũ rượi dính đầy nhị vàng. Tuệ hỏi: “Nhà cô ở đâu”. “Dưới đầm sen này” - Cô chỉ rồi cười vang. Tiếng cười lan vọng trên đầm sen rất xa như một gợn gió mạnh làm những bông sen mở nhị lào xào rụng cánh.
Vừa đi cô vừa nhẩy nhót, chân không bén đất, mái tóc bay vấn vít. Tuệ chưa bao giờ thấy một cô gái nào đẹp đến thế. Miệng cười tươi, hàm răng lấp lánh sáng.
Mới đi được một quãng, cô bảo:
- Em nóng lắm. Nóng đến héo cả người mất. Chờ em xuống đầm tắm một cái đã.
Tuệ dừng lại hơi ngượng ngùng. Cô gái trút quần áo xuống vệ cỏ, da thịt sáng bừng lên át cả ánh trăng non thượng tuần. Rẽ hoa sen, cô dìm mình trong làn nước trong vắt.
- Anh ôm quần áo hộ em với, kẻo gió bay mất, chốc lấy gì mặc - Cô bảo.
Bất giác Tuệ đưa tay ôm mớ quần vào lòng. Quần áo mong manh nhẹ như tơ nhện, trắng như cánh sen.
- Xuống đây tắm với em - Cô gái rủ.
Nhưng Tuệ không dám. Cứ đứng trong sương, khư khư ôm quần áo.
Cô gái bước lên kéo tay. Nhưng Tuệ chằn lại, đứng tấn. Không kéo được Tuệ, cô gái một mình vùng vẫy trên đầm sen. Rồi khi bước lên, tay cầm những bông sen đuổi đánh anh cười khanh khách.


Tuệ bắt đầu thấy sờ sợ. Làm gì có cô gái nào táo tợn quá thế này. Kinh hãi nhất là mỗi lần cô nói ,hương hoa sen từ miệng phả ra sực nức xộc thẳng vào mặt Tuệ. Làm sao lại như thế được nhỉ? Dưới đầm sen hay có những cô gái đi hái sen, ngã chết đuối, biến thành ma đầm sen. Người ta vẫn bảo thế. Tuệ rùng mình. Anh há mồm kêu và bỏ chạy. Cô gái túm anh lại.
- Sợ gì anh. Em đẹp thế này. Anh sợ vì em đẹp quá à.
- Cô là ma - Tuệ líu cả lưỡi ,chân tay bủn rủn
- Sờ vào da thịt em, xem có phải ma không?
Cô cầm tay Tuệ đặt lên ngực trần của mình. Bầu ngực  nõn nà nóng ấm.
Tuệ ngờ ngợ. Da thịt ma thường lạnh buốt cơ mà.
Cô gái lại cười vang. Tuệ trân trân nhìn thân hình cô. Ma làm sao có thể đẹp thế này được. Nhưng Người cũng không thể đẹp thế được. Hay là Tiên. Sách “Quốc văn giáo khoa thư” có chuyện Tú Uyên gặp tiên, lấy tiên, đẻ con với tiên, lúc rượu say còn đánh cả tiên…
Tuệ dần bình tĩnh. Muốn chạy cũng không thoát. Phải đi nốt đoạn đường.
Trăng thượng tuần ngày càng lệch dần. Những ngôi sao đang chìm mờ trong sương. Cô gái vẫn vừa đi vừa nhẩy nhót ríu rít quanh Tuệ.
Quần áo thì đã mặc. Nhưng hình như có mặc cũng như không. Trắng như cánh sen, mỏng như tơ nhện.
- Em muốn gánh gạo lên tỉnh nuôi anh ăn học. Cô gái nói - Bao giờ thi đỗ làm quan, đừng quên em. Nhớ đến tìm em ở Đầm sen này.
Ma sao có thể nói được câu này. Chỉ người trần mới nói được. Hay là mình thần hồn nát thần tính. Đầm sen thường có người canh đêm, sợ khách qua đường hái trộm hoa. Đêm vắng, giữa đường, chả có ai, nên cô gái mới đâm ra táo tợn thế này…
Đi đến ngã ba, đoạn cuối cùng của hồ sen dài, cô gái dừng lại.
- Bây giờ em lại thấy nóng đến héo cả người. Chờ em xuống tắm.
Lần này cô không rủ Tuệ. Một mình cô vùng vẫy, nô nghịch với những bông sen. Đây là cơ hội Tuệ có thể ù té chạy thoát thân. Nhưng lạ sao, cứ đứng ngây nhìn, cảm giác tê dại trong người. Có lúc Tuệ đã định cởi áo nhẩy ùm xuống nô nghịch cùng cô. Nghĩ đến chuyện ma “rủi” người chết đuối, anh kìm lại được.

Tắm xong, cô gái bước lên nũng nịu.
- Anh mặc quần áo cho em đi.
Tuệ vừa choàng áo lên vai cô thì cô lại phụng phịu:
- Vuốt hết những giọt nước và nhị sen vàng dính trên người em đã.
Tuệ đưa bàn tay đặt lên bờ vai như mảnh trăng. Cô khẽ run nhẹ dụi người vào ngực anh. Tuệ vuốt từ vai xuống eo lưng cô. Xuống đùi cô. Những giọt nước long lanh như những giọt sương tan. Phấn nhị vàng dính trên núm vú hồng. Tuệ thổi nhè nhẹ, phủi những bụi phấn. Cô gái hếch mặt lên nhìn trời lim dim mắt.
- Anh vuốt nữa, đừng để sót một giọt nước, một bụi phấn nào.
Tuệ cúi xuống tiếp tục làm theo lời cô nói. Rồi phải ngồi xuống để vuốt trên đôi cẳng chân trắng muốt.
- Xong chưa anh. Bây giờ mặc quần áo cho em - Cô gái cúi xuống, Tuệ đứng dậy, cầm tay cô xỏ vào áo, nhấc chân cô xỏ vào quần…
Chợt một tiếng gà trong làng vọng đến. Cô giật mình đẩy Tuệ ra.
- Thôi. Trời sáng rồi, anh về đi
- Cô không đi cùng tôi nữa à.
- Không. Đầm sen đến đây là hết rồi, em đi sao được.
Trời đã chuyển màu bụng cá. Hình như tia nắng đầu tiên sắp bật lên. Cô gái nhìn anh, mắt cười cười, rồi quay gót. Bấc giác Tuệ đưa tay níu lấy vạt áo.
- Anh làm gì thế. Anh làm cho hoa sen bị rách rồi.
 Cô gái đẩy nhẹ, mà Tuệ có cảm giác như gió hút người mình đi, không sao mà trằn lại được. Còn cô gái thì lùi xa, chân không bén đất. Bóng dáng nhòe tan rất nhanh trong sương.
Tuệ đứng ngẩn ngơ như trời trồng. Hôm đấy về đến nhà, Tuệ như người mất hồn. Những gì vừa xẩy ra có phải là giấc mơ không. Tấm áo dài trắng của anh còn phảng phất mùi hoa sen. Và chiếc mũ cát đánh phấn trắng vẫn vương mấy đốm nhị vàng.
Tại sao khi trời sáng, cô gái lại vội vã từ biệt anh. Ma. Nhưng Người thường cũng có thể thế chứ. Bóng đêm, đồng không mông quạnh, cô gái mới dám bộc lộ hết mình.



Cô gái có phải là ma hay không, Tuệ cũng không cần biết nữa. Từ đấy cuộc đời Tuệ luôn mang niềm khát khao gặp lại cô gái đầm sen, nhưng chẳng bao giờ được.
Điều kỳ lạ chỉ có một lần. Hư hư thực thực để suốt đời mơ tưởng.
Đại Yên - Ngọc Hà
1999