Tháng giêng rộng dài câu Quan Họ

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

DÀN NHÓT ĐỎ
Trước nhà trồng dàn nhót
Tháng tư , nhót đỏ tươi
Thơm lừng trong nắng mới
Đầy thềm , trái nhót rơi

Nhót vỡ trên hè đá
Như là giọt máu rơi
Như ảnh hình  biểu tượng
Những tháng năm , cuộc đời ...

Chủ nhà ngồi kể chuyện
Cha tôi xưa hy sinh
Trong lao tù đế quốc
Lý tưởng ngời trong tim
Anh tôi đã ngã xuống
Máu thấm đất Điện biên
Chói ngời những giọt máu
Sáng bảng vàng ghi tên

Con tôi đi đánh Mỹ
Cho đất nước một nhà
Con tôi không về lại
Vĩnh viễn thành cách xa

Trái nhót đỏ rơi rơi
Gió bay vờn cánh bướm
Hạnh phúc của hôm nay
Đâu dễ dàng có được
24-3-2014NGUYỄN PHAN HÁCH

 v
CÙNG MÔT THỨ 
...........................
Nhà hóa học
Cố định ni tơ
Làm ra phân đạm
Lúa lên xanh ngời ngời
Thóc  gạo đủ nuôi con người
Không thì chết đói
Nhưng mà oái oăm một nỗi
Trong khi làm ra phân bón ni tơ
Nên đồng thời cũng biết làm ra
Ni tơ thuốc nổ
*
Thuốc nổ là đạn bom
Bao nhiêu cuộc chiến tranh
Đã dùng ni tơ thuốc nổ
Cùng một thứ
Vừa để nuôi người , vừa để giết người
9-9-2013

NGUYỄN PHAN HÁCH
CÙNG MÔT THỨ 
...........................
Nhà hóa học
Cố định ni tơ
Làm ra phân đạm
Lúa lên xanh ngời ngời
Thóc  gạo đủ nuôi con người
Không thì chết đói
Nhưng mà oái oăm một nỗi
Trong khi làm ra phân bón ni tơ
Nên đồng thời cũng biết làm ra
Ni tơ thuốc nổ
*
Thuốc nổ là đạn bom
Bao nhiêu cuộc chiến tranh
Đã dùng ni tơ thuốc nổ
Cùng một thứ
Vừa để nuôi người , vừa để giết người
9-9-2013

NGUYỄN PHAN HÁCH


BỐN MÙA
Tản văn của Nguyễn Phan Hách
          Trưa hè nắng chang chang, cô bé hàng xóm hay sang nhà tôi tắm nhờ. Cầu ao tre trên ao sen trong vắt. Cô ngồi, nắng hè lặn vào đôi vai trần sáng trắng, soi xuống làn nước. Những bông sen trắng cũng giống như cô hay là cô giống bông sen trắng.
          Sang thu, ao lạnh, nước trong veo, cô gái không sang tắm được nữa. Nắng thu rưng rưng vàng rợi. Những con bướm vàng bay bên giậu hoa cúc. Lá Sếu như những đồng tiền vàng rơi ngập sân. Cô gái sang quét hộ tôi. Cậu lười quá – Cô bảo – Để tớ lấy về đun bếp. Tôi nhìn sang, khói lam chiều mỏng mảnh, cả một đống tiền vàng đang biến thành lửa đỏ rực trong bếp nhà cô.
          Mùa thu, nắng như ngân lại thời gian không trôi đi được. Vậy mà một sớm thức dậy, thấy gió bấc ào ào, dặng tre biến thành một cây “đại phong cầm” reo vi vút.
          Cô bé hàng xóm ủ bếp trấu đỏ hồng. Ngoài trời giá buốt. Cá mại chết cóng nổi lềnh phềnh ngoài cầu ao. Trong bếp, hơi lửa ấm xực. Chim sẻ nóc bếp bay xập xòe. Tôi ngồi thui những bông thóc nếp đầu mùa, hai đứa cắn chắt. Má hồng của cô bé dính than nhọ nhem.
          Mùa đông đi qua lúc nào chả biết. Tớ với cậu sắp thêm một tuổi rồi đấy – Cô bé nói và chỉ cây đào trước cửa. Nụ đào như những chiếc cúc áo. Rồi cúc áo cởi ra, cả cây đào thành tấm áo mùa xuân rực rỡ. Mưa xuân rơi lất phất trên những cánh đào. Mưa như bụi phấn thoa vào đôi má cũng hồng như hoa đào của cô. Sao cô và hoa giống nhau thế. Giống hoa sen trắng, rồi lại giống hoa đào.

Đại Yên 11/3/2007
BƠI THUYỀN THÚNG
Truyện ngắn mini
Nguyễn Phan Hách

Tôi nhận trách nhiệm của Công ty Du lịch đưa bà Mêri  đi chơi biển. Đây là một khách quen, và tôi biết rất rõ về bà, một người sống độc thân, uống rượu mạnh, và thích “ăn chơi”. Trắng trẻo, quý phái, lịch sự, lãng mạn, bà đi đâu, ai cũng có cảm tình.
Tôi đưa bà về bãi biển Mê Khê. Bãi nhỏ, mới khai thác, nước xanh biếc, cát sạch tinh, và người thưa vắng, tránh được cảnh ồn ào náo nhiệt của các bãi tắm quá tải.
Bà Mêri thích lắm. Thuê một phòng nhỏ trong khách sạn sát mí biển, mở cửa sổ có thể thấy sóng lớp lớp xô bờ.
Bãi Mê Khê có một “dịch vụ nghiệp dư” tự phát của ngư dân ở đây: cho khách bơi thuyền thúng. Chiếc thuyền thúng bé tẹo, đan bằng tre trát sơn đen, tròn lung lủng, dân vẫn dùng đi câu tôm đêm ven bờ. Không hiểu vì sao với con thuyền mỏng manh, như vỏ hạt dẻ kia mà người ta dám bơi ra biển. Sóng bờ cũng to lắm chứ.
Thế là tôi phải thuê cho bà Mêri một con thuyền thúng. Chủ thuyền là bà Dặm, ngoài 50 tuổi, nhưng đàn bà miền biển săn chắc mạnh mẽ, lái thuyền đi băng băng, đầy tự tin.
Bà Mêri mặc áo phao, hào hứng bước lên thuyền. Chai Uýtki nhỏ và ly cầm tay. Vừa trải nghiệm thuyền thúng lướt trên các ngọn sóng, vừa nhấp ly rượu cũng thú vị chứ.
Tôi thuê tiếp chiếc thuyền thứ hai với các dụng cụ cứu nạn đầy đủ, áp sát để bảo hiểm và quay phim bà.
Bà Mêri ngông nghênh “tạo dáng” bước lên thuyền. Sáng nay sóng khá to. Những lớp “đăng ten” trắng dào dạt lớp lớp cuộn vào bờ.
Bà Dặm khéo léo đưa thuyền nhẩy tưng tưng như ném thia lia trên các ngọn sóng. Tôi thật lạ là làm sao đôi bày tay người đàn bà kia lại có thể làm được như thế. Trông đáng sợ lắm. Từng lớp sóng cuộn lên cao, rồi lại ném xuống, trập trùng, mênh mông, mà con thuyền thì đúng chỉ bằng vỏ hạt dẻ. tưởng như sóng đập nó vỡ ra đến nơi. Mà chả cần song, chỉ cần một đám bọt nước xối mạnh, cũng làm vụn ra. Nó bằng nan tre đan trít sơn thôi mà. Thế mà với hai mái chèo, bà Dặm điều khiển được nó đi trên các ngọn sóng, làm như nó chả có “liên quan” gì đến song cả.
Tôi ngồi thuyền sau quay phim. Bóng bà Dặm hn lên nền trời, nền biển bao la. Đôi vai áo nâu tròn trặn, và đôi tay dẻo như có cánh.
Bà Mêri chưa kịp nhấp ly rượu nào, chưa kịp trải nghiệm khoảnh khắc “du lịch mạo hiểm” nào, đã bò rạp xuống thuyền, một đống váy áo da thịt trắng ngần cuộn tròn lại. Chỉ phút chốc mặt bà tái nhợt, vàng ệch, và mồm nôn ồng ộc. Tôi tuyệt đối chưa ghi được một khuôn hình “trài nghiệm du lịch mạo hiểm” nào của bà, lòng rất băn khoăn. Thuyền vẫn lướt đi, mà lướt theo hướng ra xa. Hợp đồng chương trình là như thế. 30 phút trải nghiệm, giá 1 triệu đồng. Ra xa rồi mới quay về.
Bà Mêri đến lúc cuộn tròn trong lòng thuyền cũng không yên nữa, phải vứt cả rượu cả ly, ôm chặt lấy hai chân bà Dặm. Vì sóng thì vẫn cứ trập trùng, mênh mang như lúc trời đất còn hỗn mang.
- Quay về, quay về - Bà Mêri hét gọi tôi.
Đoạn về cũng không phải đùa. Thuyền phải “ném thia lia” thế nào cho đúng luồng, mới cập được bờ. Khi thuyền chạm cát, bà Mêri như rải khoai, tôi và bà Dặm phải xốc nách hai bên về lều.
Mệt vì say sóng, vì sợ, hôm sau bà Mêri mới “đàm đạo” cùng tôi:
- Bà Dặm có trọng lượng bằng nửa người tôi, mà sao lại “tài giỏi” thế. Cùng là “đàn bà” cấu tạo như nhau, mà sao khác nhau một trời một vực. Tôi có cảm giác, ấy lướt thuyền, bà ấy như con chim, còn tôi là “con sứa” sắp tan ra thành nước.
Bà bắt tôi đưa bà đến “thăm viếng xã giao” bà Dặm. Nhà bà Dặm  gần mí biển, tanh nồng mùi cá, gió thổi lồng lộng, làm vèo bay những bông hoa Muồng  tím nhạt trước hè.
Bà Dặm tiếp nhiệt tình. Chồng bà, một ngư dân chất phát, hiền hậu, đi hấp “tôm hùm” mời chúng tôi ăn. Những con tôm bà Dặm mới bơi thuyền thúng câu được đêm qua, tươi rói, ngọt thơm. Mêri nói ở Pháp chỉ tết Nôen, bà mới dám mua loại tôm này về ăn.
Hai đứa con bà Dặm, một trai một gái, học đại học ngành thủy sản, giờ đang làm cán bộ trên tỉnh liên quan đến nghề đánh cá nhưng lương lậu cũng chỉ đủ ăn. Vợ chồng bà vẫn phải “bám biển” để sống, và trợ cấp thêm thắt cho con. Chồng bà là dân đi đánh bắt xa bờ, mỗi đợt cả tháng mới về, vật lộn với Thái Bình Dương, có lần bão đánh vỡ tan thuyền, bám mảnh ván bơi trên biển mấy ngày mới được cứu hộ.
Còn bà, với chiếc thuyền thúng mỏng manh ,câu tôm đêm, năm này qua năm khác, từ lúc 16 tuổi đến giờ đã được 38 năm. Chiếc thuyền này mục hỏng, bà thay chiếc thuyền khác. Đã cả trăm chiếc thuyền thúng qua tay bà.
Bà Dặm ngồi mắt đăm đăm nhìn ra biển, và cười cười “miêu tả” lại cảnh câu tôm đêm như thế nào theo yêu cầu của khách du lịch.
… Mỗi buổi tối, tôi kéo thuyền từ bờ cát ra biển - Bà nói - Thuyền khá nặng, phải cố sức đẩy . Nó cứ trịt trên cát, không chịu đi cho. Chớm đến nước nó mới chịu nổi phềnh. Tôi bơi ra xa, càng xa càng nhiều tôm hơn, xa đến mức không nhìn thấy bờ cát nữa. Ở đấy tất cả mênh mông, đen ngòm, sóng buôn dập dềnh, tôi bắt đầu thả câu buông lưới…
Theo lời kể của bà, tôi tưởng tượng hình ảnh con thuyền thúng của bà lúc ấy cô đơn như thế nào giữa trời nước bao la về đêm. Mà nào phải là thuyền gỗ, thuyền đinh chắc chắn, nó chỉ là những nan tre đan to hơn cái thúng, có lẽ chu vi vài mét là cùng. Nó so với biển thì thật đúng là buồn cười,mong manh như vỏ trứng.
Vậy mà cô gái Dặm, một mình ngồi đấy, đêm này qua đêm khác, thức với đại dương, từ lúc 16 tuổi đến giờ, ngoài 50 tuổi. Biển thành “giường ngủ đêm” của bà. Bởi câu đêm là câu từ tối đến sáng, càng về sáng càng được nhiều tôm. “Giường ngủ đêm”, nhưng nào có được ngủ. Chỉ biển ngủ thôi, còn bà phải thức. Biển ngủ, nhưng biển “ngáy” hơn sấm. Tiếng biển đêm ầm ào, sóng quện với bóng tối.
Bà ngồi chồm hổm trên Thái Bình Dương một mình. Có lúc Thái Bình Dương để cho bà ngi yên, nhưng có lúc nó giở mình vì mỏi, lật úp thuyền bà. Và bà phải nhẩy xuống sóng, lựa chiều lật nó ngửa lên, tát nước ra. Chỉ đôi tay “mềm yếu” của con gái, mà  làm được việc ấy. Đôi tay thiếu nữ phải xục vào sóng lật ngửa thuyền lên.
Cả đời bà phải giữ cân bằng cho thuyền không bị sóng lật úp. Thái Bình Dương thì đêm nào cũng chỉ nhăm nhăm lật úp thuyền bà như cuộc đời chỉ nhăm nhăm xô đẩy dập vùi số phận con người.
Bà phải thắng được nó, thì mới sống. Thái Bình Dương rộng mênh mông, mà đêm đêm chả có ai cạnh bà. Mình bà.Một mình bà. May mắn, thì trên trời có những ngôi sao. Ừ, phải rồi, nói bà cô đơn trong đêm thì cũng “hơi oan”, vì trên trời còn có những ngôi sao. Và mỗi tháng một kỳ, có trăng. Bà làm bạn đêm với trăng và sao Thái Bình Dương. Sao nhấp nháy, hàng tỷ ngôi sao đang rõi theo, quan sát bà từng động tác câu tôm. Vậy là bà cũng không đến nỗi “lẻ bóng” một mình lắm! Còn trăng thì lúc tròn vành vạnh, làm bạn “gần gũi” hơn,. Chỉ đến kỳ cuối tháng, trăng “đi gặp người yêu” ở đâu, mất tăm , không gặp. Bà thấy hờn hờn, rỗi rỗi, ghen ghen… Phút gặp lại nhau có gì vui lạ.
Sau suốt một đêm thức trắng, thường thì mặt trời từ chân biển tít xa nhô lên, đầu tiên là một vành nhỏ như lưỡi liềm bằng vàng, rồi bay vút lên tròn xoe rực rỡ. Mặt trời đã thức, biển đã thức, ánh chói lòa, bà tắt chiếc đèn chai (bóng làm bằng  chai cưa đáy, thủy tinh dày cộp để chắn  gió đêm.)
Những con tôm trong thúng nhảy lách tách, bà bơi thuyền về bờ cát, bắt đầu “hòa nhập” với “cuộc sống”, sau một đêm tách ra khỏi “thế giới”. Bây giờ thì bà “bận rộn” lắm, đi bán tôm,đòi giá đắt rẻ, chả để ý gì đến mặt trời đang lòi lọi trên đầu. Chỉ đến hoàng hôn, sắp tối, mặt trời sắp lặn, bà kéo thuyền ra biển, mới thấy “nhơ nhớ” mặt trời,…
Bà Mêri thích thú trước những lời miêu tả cảnh câu đêm “ấn tượng” của bà Dặm. Bà tặng chủ nhà một vòng ngọc trai bằng nhựa có móc khóa kim loại sáng loáng. Những hạt trai giả đẹp hơn cả hạt trai thật. Thứ này phụ nữ đeo thì tuyệt. Bà Dặm ướm thử lên cổ mình. Vòng ngọc trai làm sáng bừng chiếc cổ nhuộm gió và muối biển đen sạm.
-Tôi cũng có những viên ngọc trai. Nhưng làm thế nào mà đục lỗ xâu dây lại thành vòng được như thế này- Bà Dặm nói - Khi đi câu tôm thỉnh thoảng gặp khu biển thích hợp, tôi cũng câu được cả những con trai to bằng cái bát. Thịt trai nấu thơm ngon lắm. Và trong lòng nó có những hạt trai óng ánh. Tôi tích lại được một vốc, để giành…
Bà Dặm đem ra chiếc túi vải rách, đựng những hạt trai thật, to nhỏ khác nhau, chưa được đánh bóng, nên trông rất xấu. Chả làm sao đẹp được bằng chuỗi hạt trai nhựa tinh xảo chế tạo ở Pari của bà Mêri.
Đầy phấn khích vì được “trải nghiệm” chuyến du lịch đặc biệt, để “hòa đồng” với “thổ dân”, bà Mêri xin hát tặng chủ nhà một bài dân ca Pháp. Hát là nghề của bà. Nghề sống hẳn hoi. Bà vốn là ca sĩ, vũ nữ trong các quán trà loại ba ở Pari. Giọng hát loàng xoàng, nhưng xinh đẹp, múa đẹp, “chịu chơi”, nên sống được bằng nghề này. Cái quan trọng nhất là bà không lấy chồng. Đấy là một ưu thế tuyệt đối, một vũ khí lợi hại, giúp bà tồn tại, thành công, thanh nhàn giữa đất Pari, giờ về già, có tiền đi du lịch thoải mái.
Chẳng thằng đàn ông nào thích “lằng nhằng” với gái có chồng. Chơi vi! “gái không chồng” an toàn, thú vị, chẳng sợ rắc rối gì. Bà Mêri già vẫn đẹp, vẻ đẹp sung mãn, từ bé đến giờ không biết bao nhiêu người yêu bà, và tất nhiên là bà “ai cũng yêu  và chẳng yêu ai”. Bà sống như con chim tự do, lúc đậu cảnh này, lúc đậu cành khác. Rét thì bà bay “di cư” xuống phương Nam ấm. Nóng thì bà lại bay về.
Kiểm điểm lại, thực ra, cũng tại bọn đàn ông. Không có “thằng nào” yêu bà chí thiết, đưa bà về ở trong biệt thự sang trọng, chuyển vào tài khoản của bà những “số dư” lớn. Chúng chỉ “say đắm” da thịt của bà, còn tiền thì chi tiêu dè sẻn. Bà phải tự tạo nên cơ chế điều chỉnh, lấy cái lợi thế “không chồng” của mình để “quan hệ” và “tích lũy”. Cuối cùng thì bà cũng thành công. Dù hát hỏng chẳng ra gì, nhưng nghe cũng không đến nỗi nào. Khi bà bước lên sân khấu phòng trà, khối thằng chả mê như điếu đổ, bờ vai, cánh tay hố nách trắng muốt cuả bà.
Bà “đếch cần” một mái ấm gia đình, “đếch cần” những đứa con. Và bà sống như “bà hoàng”, ăn chơi, uống rượu mạnh, và bây giờ muốn gì được nấy, kể cả thử một chuyến “du lịch mạo hiểm” bằng thuyền thúng câu tôm của “thổ dân” xem thế nào…
Công bằng mà nói, bà là người tốt. Bà chẳng làm hại ai. Chẳng lừa đảo ai. Bà cũng chẳng làm một người đàn ông nào phải đau khổ mà chết vì bà. Bà cũng chưa làm ai phải “mất chức” ,mất công danh vì “phạm pháp yêu vợ người khác”. Bà có chồng đâu. Suốt đời bà là người tự do. Người tự do thì yêu đương thả sức…
Sau màn hát của Mêri, tôi đề nghị bà Dặm cũng hát. Hát và hò kéo lưới. Dân biển nơi nào cũng biết kiểu này. Khi kéo thuyền to, dọc mí biển, người ta phải chụm sức lại, tròng  dây thừng vào vai, và xướng lên những điệu “hò dô” làm nhịp. Những hài “hò dô” phát triển thành những giai điệu hào hứng phấn chấn giúp người ta vượt qua những cơn nhọc nhằn quá sức. Hò kéo thuyền trên biển,  mênh mông vời vợi, là tiếng tâm hồn của những con người xứ biển.
Dân xóm mách bà Dặm là người có giọng hay nhất ở đây. Mỗi khi gọi nhau đi hợp sức kéo thuyền, ai cũng thích gọi bà đứng ra “cầm càng” xướng lên để cho tất cả hò theo. Bà hò từ lúc 16 tuổi, nên bây giờ,  chả ngần ngại gì mà không hò, rồi cả hát dân ca biển cho bà khách vui tính và hào phóng vừa tặng bà chuỗi hạt trai nhựa tân kỳ ở đây chưa ai có…
Bà Dặm bước ra chiếc chiếu giữa nhà, hai tay đưa lên vai, kéo một chiếc dây thừng tưởng tượng. Tấm thân mềm mại dẻo giang của bà xô nghiêng, chân choãi ra, như hình tượng trong tranh cổ điển” Những người kéo thuyền trên sông Vonga”.
Hò ơi… Dô tá dô tà…
Thuyền từ biển lớn, sóng xa thuyền về…
Giọng bà Dặm âm âm, ngân lên, xao động. Rõ ràng là người “có giọng”. Có cái gì vời vợi mênh mang của biển  trong câu hò của bà. Những lớp sóng xa xa rồi xô đến bồn chồn. Giọng hát từ sâu thẳm của tâm hồn biển ngân vang, chứ không đơn thuần là phát ra từ đầu môi chót lưỡi.
Bài hò khá dài… “Ca sĩ phòng trà chuyên nghiệp của trung tâm ăn chơi bậc nhất thế giới Pari” Mêri cũng phải im phắc lắng nghe,  xúc động…
Trở về khách sạn, bà Mêri cho tôi xem tập anbum của bà. Những tấm “ảnh lụa” đen trắng có từ hồi thợ ảnh khi chụp còn phải phủ tấm khăn lên đầu che kín rồi nheo một mắt qua khe ngắm…
… Cô bé Mêri 16 tuổi từ thị trấn, bỏ nhà, trốn bố mẹ lên Pari, hai cái nơ như đôi bướm ngây thơ trinh trắng đậu trên đầu. Tay xách gói đồ, cô bỡ ngỡ trước bến xe điện đầy những quý ông đội mũ phớt quả dưa, tay cầm “ba toong” qua lại.
16 tuổi. Ừ, hình như Mêri cùng tuổi với Dặm. Đêm Mêri đặt bước chân đầu tiên lên sâu khấu phòng trà loại ba ở Pari, cũng là đêm Dặm một mình bơi con thuyền thúng như vỏ hạt rẻ ra Thái Bình Dương.
Đêm Mêri hát bài hát đồng quê đầu tiên ở đấy, cũng là đêm Dặm ngồi một mình sợ chết khiếp vì sự mênh mông của Thái Bình Dương, nên cô cũng hát lên. Sau này Mêri có mấy “bài t”, trong đó có một bài nói về “Sao trời và biển đêm” được thính giả phòng trà đòi hát đi hát lại nhiều lần, vì nó gợi tả nỗi buồn cô đơn, nhỏ bé của kiếp người… Thì chính lúc ấy Dặm đang là “nhân vật chính” của ca khúc kia. Đêm nào Mêri cũng hát bài ấy và đêm nào Dặm cũng ra Thái Bình Dương câu đêm.
Số đêm “lao động” của họ bằng nhau.
Đời Mêri trôi qua trong các vũ trường phòng trà thì đời của Dặm trôi qua trong đêm và sóng Thái Bình Dương.
Rồi họ cùng dần về già. Giọng hát của Mêri có lẽ cũng không hơn gì giọng hát của Dặm. Nếu Dặm bước lên sâu khấu phòng trà có lẽ người ta cũng chào đón nồng nhiệt như với Mêri. Nhưng đời Dặm chỉ có những con sóng đêm Thái Bình Dương chào đón. Và Dặm hát cũng  chỉ cho những con sóng đêm Thái Bình Dương nghe.
- Tôi đã tìm thấy “hình ảnh biểu tượng” của cuộc đời mình - Bà Mêri cầm tay tôi thầm thì triết lý khi tôi xem xong tập anbum - Tôi sẽ thuê họa sĩ vẽ hình  ảnh một người đàn bà với con thuyền thúng trong đêm giữa biển cả và trời sao. Đó chính là đời tôi đấy. Sự cô đơn và thân phận của tôi, của kiếp người….

28/3/2014



 vvvvvvvv
BẠN ẢO
Những người kết bạn cùng tôi
Trên Facebook
Toàn những người tốt
Qúy mến nhau
Toàn những người đầy tâm sự
Thấu hiểu buồn vui lẽ đời
Chia sẻ nhau từng cảm xúc
Nhìn thấy ảnh cả mâm cơm của nhau
*
Nhưng thế quái nào
Giật mình
Hóa ra toàn bạn ảo
Tắt màn hình lat top
Chỉ còn mình với mình
*

Giữa  cuộc đời  người dày  đặc hành tinh
Không biết tôi có bao nhiêu bạn thật và bạn ảo
 Sợ vẩn vơ chiếc “Đại lat top hành tinh “
Có gì bảo đảm nó không hỏng
        14-4-2014
NGUYỄN PHAN HÁCH


 v

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014




HÀ NỘI TÔI YÊU...
Tản văn của Nguyễn Phan Hách
         
Nắng tháng Chạp rưng rưng. Nắng của thế kỷ trước ấp ủ mái phố cổ lô nhô.
          Tôi đi trong rêu phong 36 phố phường. 36 mảnh hồn làng nghề cả nước hội tụ về đây. Ông thợ Bạc chạm khắc thỏi vàng. Bác Phó thổi bễ đúc đồng. Cô gái gói hương cốm đồng quê trong lá dong xanh...
          Bao nhiêu nghề còn, và bao nhiêu nghề đã mất.
          Không còn người che lọng vàng tán tía,nên tên phố Hàng Lọng, Hàng Quạt chỉ còn là hoài niệm.
          Không còn chợ bán Cỏ cho ngựa của vua quan ,nhưng tên Nhà ga Hàng Cỏ không quên.
          Hàng Tre vẫn còn bán những chiếc sào có vết lửa hun nắn thẳng mấu đốt. Sào tre, “di vật” của những dặng tre ngàn đời bao quanh làng Việt, mà thoắt cái đã thành hư ảo.
Phố Hàng Gà, còn tiếng gà gáy trong quá vãng. Tiếng gà gáy suốt năm canh, như tiếng chuông điểm nhịp thời gian, tiếng kèn giục giã cuộc sống, nhắc ta không bao giờ đầu hàng. Còn không tiếng gà gáy xưa trong lòng phố cổ.
Hàng Phèn. Bao nhiêu tấn phèn gạn nước đục trong, cuộc đời này.
Hàng Buồm không còn bán những cánh buồm và gió trên sông chở con người đến những miền xa, chỉ còn đây trên hàng cây mái phố Hàng Buồm hôm nay, tiếng gió căng buồm!
Hàng Mã của tuổi thơ, mẹ mua cho cây đèn ông sao thắp sáng suốt cuộc đời con.
Hàng Bát Đàn còn nhớ ảnh hình “mâm đan bát đàn” bữa ăn đơn sơ của người Việt cổ...
“Hòe hoa hoàng, cử tử mang” Phố Hòe Nhai không còn dặng hòe vàng rợi che đầu sĩ tử đoạn đường buổi sớm vào sân Thành Nội ứng thí, “Đại đình tằng đối tam thiên t” (giữa sân rồng múa bút viết ba ngàn chữ) của các ông Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.
Tôi đi trong phố cổ, bước xăm xăm vào quá khứ.
Mùi thơm phố Thuốc Bắc, Lãn Ông... Không còn những ông Lang râu dài, bên những chiếc cân tiểu ly nặng nhẹ thời gian...
Hàng Trống, vọng về  âm âm tiếng trống hội làng, hội phố. Con trâu một đời cần mẫn kéo cày, lúc chết còn để lại bộ da cho cuộc đời gõ lên những tiếng kêu vang.
Gai, sợi gai là cái gì quan trọng thế mà chiếm cả một phố lớn - Hàng Gai. Có lẽ tại là không có sợi se đan dệt, thì mọi thứ cứ rời rông rổng...
Hồ Gươm, Hồ Tây long lanh như ánh mắt. Như gương mặt thời gian, soi vào đây thấy bóng hình lâu đài thành quách Lý Trần Lê vàng son...
Tôi vịn tay vào  đôi Rồng Đá điện Kính Thiên, và bay lên.Tôi nhìn thấy đất Đế Đô ngàn năm tựa lưng vào Ngai núi Tản Viên thần thánh, mặt nhìn ra sông Hồng long mạch trường tồn cuồn cuộn chảy...
Tôi thấy Đức Thái tổ họ Lý mang cái tên mộc mạc của làng quê Diên Uẩn (Bắc Ninh) đang ngắm rồng bay làm nên biểu tượng thăng hoa của một thời dựng nước, lập đô.
Tôi thấy Đức Thái tổ họ Lê trả gươm cho rùa vàng bên hồ Tả Vọng, biểu tượng khát vọng hòa bình muôn thuở, sau khi binh lửa can qua.
Và tôi thấy “Rồng lửa Thăng Long” thời chống Mỹ bay lên quật ngã Pháo đài B52, cho nó uống nước Hồ Tây, cho nó chết chìm trong ao nhỏ làng hoa Ngọc Hà.

*  *  *
*  *
    *
Tôi đi lang thang dọc bờ sông Hồng. Sóng thời gian cuồn cuộn trĩu nặng phù sa  bồi đắp.
Tôi thấy trong mù sương quá vãng bóng hình chiếc tàu thời cơ khí đầu máy hơi nước ngạo mạn,  nã pháo vào thành cổ Hà Nội ngàn năm để rồi cả Gácniê lẫn Rivie đều phải bỏ xác tại đoạn đường Cầu Giấy... Tôi thấy những tên sĩ quan ăn cướp Pháp đầu tiên lộp cộp lên bờ nhận phần  Nhượng địa Đồn Thủy, và sĩ quan công chính Va Ren cho xây ngôi nhà Tây hai tầng bằng sắt, sỏi, xi măng đầu tiên... Và tôi thấy bóng hình những tên lính phương Tây đã phải bước những bước cuối cùng của chủ nghĩa thực dân qua cầu Long Biên.
Tỉnh Hà Nội do Minh Mạng lập ra năm 1831 gồm bốn phủ Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân.
Pháp đến, xây trên địa bàn Phủ Hoài Đức thành phố Hà Nội làm thủ phủ liên bang Đông Dương, còn ba phủ kia trả về các tỉnh lẻ.
Kiến trúc sư Pháp Ernest  He’brad đến Hà Nội năm 1921, và Luis Pineau đến năm 1932, hai ông tạo nên diện mạo phố Tây thuộc địa với các biệt thự tháp nhọn sau bóng dã hương.
Ngày hôm nay, Hà Nội mới, vươn vai rộng dài như Thánh Gióng ,hứa hẹn một đô thành nguy nga tráng lệ...
Mùa xuân đã trở về. Nắng vàng như rót mật. Dòng suối hoa từ ngoại thành tràn vào nhuộm hoa cho phố xá. Đào tết Nhật Tân đã thành sắc màu văn hóa Hà Nội, văn hóa Việt Nam. Đào thế gốc lịch sử xù xì, nở bừng sắc hương thời mới. Đào phai, năm cánh mong manh như hồn núi rừng đồng quê về hội tụ.
Hình cô gái cầm cành đào đứng bán trên  hè phố, đã trở thành biểu tượng của mùa xuân.
Màu hoa đào là màu má hồng con gái. Còn hoa Cúc vàng là màu khát vọng tình yêu.
Chợ hoa đêm Hà Nội mờ trong trăng khuya, sương sớm để hoa kịp về phòng khách ban mai mỗi gia đình. Hồng Vàng như nàng công chúa kiêu sa. Cẩm chướng, thược dược như cô gái  si tình . Ly ly như người yêu ca sĩ thời trang. Diên Vỹ giá mấy chục triệu đô trong tranh Van Gốc, hiện hình về đây thành sắc hương có thật. Loài Cúc trắng Họa Mi đơn sơ, bình dị là sứ giả báo mùa đông đến. Còn Sen Hồ Tây là sứ giả mùa hè. Sen đến nồng nàn, nhưng phải ngậm ngùi ra đi khi gió heo may, như những cuộc chia ly bắt buộc của cuộc đời này.
          Có một loài hoa gợi tiếng kèn thời gian âm vang khi nắng mới bừng lên sau giá rét mùa đông. Hoa Loa Kèn trắng muốt trên tay cô gái có đôi môi khát thèm đang cắn trái mơ chua, chín cùng một ngày với kỳ hoa nở.
Mơ chua tháng ba thoáng qua môi người thiếu nữ Hà Nội. Môi đắm say hương vị cuộc đời nhẻ nhót trái mận đào, vải thiều. Na mở mắt ngỡ ngàng tháng bẩy. Và tháng tám, hồng về để thi với má người con gái đến thì...
Tôi đi trong bốn mùa hoa, mùa quả Hà Nội. Hoa Sữa mùa thu tình đầu của tôi. Hoa Xưa tháng hai là tuyết trắng trong tinh khiết của tình tôi. Tôi đắm chìm trong sắc hương Hà Nội, sắc hương của chính lòng tôi...

5/1/2014vvv