Tháng giêng rộng dài câu Quan Họ

Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

VĨ NHÂN
Xiôncốpxki
Ông giáo điếc trường làng
Vạch ra lý thuyết bay vào không gian
*
Bettôven
Nhạc sĩ  điếc , sống một mình buồn tẻ
Mà sóng nhạc âm vang thế kỷ
Chẩy dạt dào tự trái tim cô đơn
*
Đôtxtôiepski
Mỗi tháng mấy lần choáng váng chết ngất
Viết tiểu thuyết thành kỳ thư bậc nhất
*
Van Gốc điên điên tự cắt tai mình
Để lại cho đời những bức tranh
Xếp hàng đầu di sản văn hóa
*
Bao vĩ nhân kỳ lạ
Tạo hóa đọa đầy kiếp sống trần ai
10-10-2013

NGUYỄN PHAN HÁCH
VĂN CHƯƠNG ĐỂ LÀM GÌ
Rút cục văn chương để làm gì
Cánh bướm vàng bay để làm gì

Văn chương rõ thật là vô ích
Tiếng hót Họa mi thật là vô ích

Văn chương không là gạo ăn no bụng được
Nắng đầu thu cũng chẳng làm bụng no

Làm sao biết cái hay của văn chương
Lưỡi sẽ biết cái ngon của rượu

Không yêu văn chương , vẫn sống nhăn
Không được con gái đẹp yêu cũng chửa chết

Không học văn học , chửa chết ai
Tâm hồn cằn cỗi chửa ai chết

Không có văn chương , tôi chửa chết
Đời không đọc gì , buồn ra phết
21-3-2014

NGUYỄN PHAN HÁCH 
TƯỢNG  NHÀ VĂN
Mátxcơva phong vàng tuyết trắng
Thẩn thơ đùa với chim Varônna
Gặp người xưa bên một vườn hoa:
Putskin nhìn tôi quen biết
Putskin sao mà thân thiết
Tự thuở nào còn tuổi ấu thơ
Matxcơva huyền thoại trong mơ
Đi đâu cũng gặp người yêu mến
Những đại lộ quảng trường tôi đến
Có bóng hình Sê khốp , Tônstôi
Đầu ngẩng cao lồng lộng dưới trời
Và kia nữa :Gorki, Mai a và Đốt...
Tôi cúi chào trong lòng thảng thốt
Bao vĩ nhân sao quá quen thân
Đứng bên đường như mốc thời gian
Như lịch sử , văn chương rộng mở
Như ánh sáng trên đầu soi tỏ
Đưa bàn tay nâng đỡ tôi đi
Và lòng tôi như chợt   khắc ghi
Chợt hiểu hết nước Nga đẹp mãi
Đã vĩ đại càng thêm vĩ đại
Vì biết tôn thờ yêu mến văn chương
   21-10-2013
NGUYỄN PHAN HÁCH





TỪ KHÓA
Những từ khóa của cuộc đời ai
Có mấy từ lặp đi lặp lại
Đắng cay ,ngây thơ ,thật thà, khờ dại
Ưu tư , nghẹn ngào , trắc trở , lao đao...
Những từ khóa buồn , nghe chán làm sao

Những từ khóa của cuộc đời ai
Hoa hồng , ngọt ngào, tình thơ , bốc lửa
Mơ mộng , nhớ thương ,đắm say , chan chứa...
Từ khóa vui, lấp lánh hào quang

Trộn hai bài văn , cho từ khóa chạy lang thang
1-4-2014

NGUYỄN PHAN HÁCH
TRUNG Du
           Gửi Lục nam
Trung du ơi còn nhớ ta chăng
Cỏ mướt xanh đồi xa bát ngát
Ta chạy nhảy nô đùa ca hát
Chim đồi bay xà thấp trên đầu
Đường hoa Mua tím ngắt một màu
Như là tình trung du thương nhớ
Bóng gà Gô trên đường sỏi đỏ
Ta lang thang cùng cô bé thơ ngây
Hái nhành sim chín mọng trên tay
Sim ngọt lịm trên môi hai đứa
Đêm trăng biếc ta nằm trên cỏ
Nghe chim đồi gọi bạn tìm nhau
Tiếng chim đồi kêu suốt đêm thâu
Bản tình ca trung du vọng mãi
Những nẻo đường trung du xa ngái
Bóng gia trang cổ thụ la đà
Bến rêu xanh suối nhỏ trước nhà
Hạt rẻ gai lăn tròn trên cỏ
Ta đã sống những  ngày buồn  nhớ
Nắng đầu đông xao xác rừng thông


Đại bàng  bay lơ lửng từng không
Chiều thu cỏ úa vàng ngõ lối
Có bóng hình một người con gái
Hằn lên trời đất biếc trung du
Ta thả cánh diều trắng muốt tuổi thơ
Dòng dây chạy khắp đồi tít tắp
Có ngọn gió làm dây nhỏ đứt
Từ ấy diều bay mất hút chân trời
         8-9-2013
NGUYỄN PHAN HÁCH





Tình yêu, chỉ một lần
Truyện ngắn
của Nguyễn Phan Hách

Ông Đức Quang chuyển ngành từ Quân đội sang Ngoại giao sau khi chiến tranh kết thúc 1975. Cậu học sinh tú tài trường Bưởi mộng mơ, xếp bút nghiên, vào trận mạc, rồi cũng thành chiến sĩ dày dạn suốt hai cuộc khánh chiến chống Pháp, chống Mỹ. Nhưng hòa bình rồi người ta cần một người có phẩm chất và đã được thử thách như ông để làm công việc ngoại giao trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp, đầy cảnh giác. Ông có văn hóa, giỏi tiếng Anh, Pháp, ngoại hình, tác phong đĩnh đạc.
Đức Quang mới được bổ nhiệm làm Tổng lãnh sự quán Việt nam tại California. Vị thế sang trọng, bề ngoài bệ vệ, lịch duyệt, nhưng bên trong ông có cuộc sống giản dị, chất phát không ngờ. Độc thân, chưa một lần lấy vợ, thích ăn các món đồng quê Việt Nam, không thích phomat, trứng cá tằm, uytki, trái ngược với đặc thù của nghề nghiệp luôn phải dự các cuộc chiêu đãi quốc tế.
Vùng Quận Cam có một cái chợ ven đường dân dã, đậm chất Việt Nam rất hay. Mỗi tuần họp một lần.Dân  trồng lấy ngọn rau, củ quả trong vườn nhà, đem ra bán hoặc tặng… Cũng là cách nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương. Ông Đức Quang thích dạo qua chợ này hơn là vào Hội chợ thương mại Quốc tế.
Buổi sáng ấy, ông Tổng lãnh sự lững thững bước, ngắm nhìn những “bà già” má phấn môi son, móng tay nhuộm đỏ, đang ngồi “chồm hổm” bán rau. Rau trồng ngoài vườn và cả trong nhà kính có điều hòa nhiệt độ, nên loại gì cũng có, dù trái mùa.
Hàng rau muống, ngọn non tơ xanh mướt. Rau muống tiếng Hán Việt gọi là “Tâm không thái” (rỗng ruột). Ôi, ngọn rau muống thân thiết biết chừng nào với dân nước Việt. Ăn nem công chả phượng mà không có ngọn rau muống, nóng cổ, khó chịu. Rau muống là “quốc rau”. Người Việt ở nước ngoài, nhìn ngọn rau muống lòng rưng rưng nỗi buồn hoài niệm. “Anh đi anh nhớ cảnh quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương…”
Qua “hàng rau muống”, Đức Quang sang “hàng rau cải”. Tầu cải xòe to, ngồng trổ hoa vàng. Cải luộc chấm tương gừng, ăn cay sống mũi. Cải héo muối dưa, vị ngon khó tả…
Qua “hàng rau”, sang “hàng củ quả”.Khoai lang. Vỏ tím. Củ khoai lang nướng giữa chiều đông…
Cà pháo. Bé như hòn bi… Cà pháo muối xổi, cắn giòn tan.
Ớt. Sao mà thiếu được vị ớt cay đầu lưỡi. “Đắng cay” đã thành ẩm thực. Sang đến đây, c trồng một cây ớt, quả đỏ chói, đến bữa vặt v thái lát thả vào bát nước mắm vắt chanh…
Ông Đức Quang đi hết chợ rau, đi qua hoài niệm quê hương, ra ô tô về nhà. Công việc ở Tòa lãnh sự lúc nào cũng bận rộn. Khi cửa xe vừa mở, một “quý bà” tiến đến:
- Thưa ông…ông là Đức Quang phải không?
- Chào bà… Bà là…
- Em lặng lẽ theo ông suốt buổi sáng  nay. Dù đã gần 40 năm xa, nhưng em vẫn nhận ra ông. Không thể nhầm lẫn được… Anh Quang ơi, đây có phải là giấc mơ không… em là Thu Trang đây mà…
Hai người ôm nhẹ nhau…
Chiếc Méc xê đéc màu bạc của Quang đi trước. Chiếc Toyota màu đỏ của Trang đi sau. Hai người đến một quán cà phê nhìn ra vườn hoa để nói chuyện. 40 năm xưa, họ yêu nhau ở Hà nội. Và họ đã xa nhau. Họ yêu nhau bình thường như các “tình yêu phổ thông” khác, hay là tình yêu kỳ lạ? Chỉ biết đó là tình yêu thứ nhất, và cũng là cuối cùng của cậu học trò tú tài trường Bưởi với cô nữ sinh Thu Trang trường Đồng Khánh. Từ ấy đến nay, đầu đã bạc, chàng trai Đức Quang không có tình yêu nào khác. Tình yêu, chỉ một lần. Sống độc thân. Vậy không biết đấy có phải là tình yêu đặc biệt không?
Thu Trang khóc đẫm vai áo Quang. Họ thông tin vắn tắt quãng đời 40 năm qua của mình. 40 năm qua, họ không hề có tin tức của nhau. Mỗi người quay trong một quỹ đạo khác, y như ở hai hành tinh khác.
- Em hiện không chồng và không con, ở một mình với con mèo Minu màu trắng.
Đức Quang chăm chăm nhìn Trang. Như lần đầu tiên họ gặp nhau trong dạ hội thanh niên. Trang lúc ấy như bông ngọc lan trắng muốt thơm ngát. Từ móng tay cũng toát ra vẻ kiều diễm. Nàng là con một chủ cửa hàng tơ lụa Hàng Đào, khá giả. Còn Quang là con một chủ trang trại nhỏ, trng cam vùng Bố Hạ, Yên Thế. Những quả cam ngọt lừ đủ tiền cho Quang thuê một căn gác phố Thụy Khuê, và theo học trường Bưởi.
Hai người thường bơi brít xoa trên Hồ Tây vào các chiều thứ bẩy, và nhẩy các bài van Áo cổ điển ở vũ trường Tràng Tiền. Quang học ban Sinh ngữ (tiếng Anh – Pháp). Còn Trang, không có chí hướng học hành gì nhiều. Cửa hàng tơ lụa Hàng Đào đang cần cô về trông coi.
Quang đã đưa Trang và mấy cô bạn “nghịch như quỷ sứ” của nàng về đồi cam chơi. Cả bọn nô đùa chạy nhẩy trên những quả đồi xanh mướt, vặt cam chín mọng ném nhau phí phạm làm lão quản lý trang trại “chửi thầm”. Họ đã ra bờ sông Thương đêm trăng bơi thi. Thượng nguồn trong vắt, cát sạch tinh, trời đất trong veo, tình đầu của họ cũng trong veo. Họ đã hôn nhau lần đầu tiên và môi Trang thơm nức mùi vỏ cam. Mùi vỏ cam, Quang quá quen thuộc mà sao bây giờ tưởng như mới biết lần đầu khi nó thoát ra từ môi Trag…
- Tại sao anh không lấy vợ - Thu Trang nhấp ngụm cà phê đắng nhìn ra đường phố Cali, hỏi.
- Anh không biết. Không trả lời được. Còn em, tại sao bây giờ em sống một mình với con mèo trắng.
- Em cũng không biết và cũng không trả lời được. Chuyện đời dài lắm. Sẽ kể anh nghe sau.
- Đời sống kinh tế của em hiện thế nào?
- Em có một ngôi nhà hai tầng nhỏ ở Garden  Grove quận Cam, có ít tiền gửi nhà băng lấy lãi ăn dần… Con mèo trắng của em đáng yêu lắm, em hay bồng nó trên tay, và nó thích dụi đầu vào vai em nũng nịu.
- Em có nhớ Hà nội không?
- Nhớ lắm. Tuổi thơ của chúng mình. Tình đầu kỳ diệu của chúng mình. Hàng Đào bây giờ thế nào hở anh.
- Hàng Đào giờ là phố du lịch, phố đi bộ. Ngôi nhà số XY của em, vẫn nguyên vẹn như ngày xưa, vì đó là phố cổ, bảo tồn. Nó vẫn đợi em về để một lần chính tay em mở cửa. Hàng Đào, Đồng Xuân thỉnh thoảng có biểu diễn hát xẩm. Y hệt cảnh ngày xưa. Diễn viên cũng đội nón rách, áo nâu vá, kéo nhị cò ke, bầu nhị bọc bằng da ếch.
- Em mong sao một lần về, gặp lại.
- Ngôi nhà em, mầu rêu mốc, đồ đạc cũ nguyên xi thành “hiện vật bảo tàng” cho khách du lịch phương Tây vào trải nghiệm không gian sống Hà thành cuối thế kỷ 19, đầu 20. Thỉnh thoảng anh có ghé qua. Cô thuyết minh trẻ đẹp, cầm que chỉ trỏ đồ cổ. Chiếc giường (nơi em xưa từng nằm). Bộ bàn ghế gỗ trắc khảm trai (nơi em xưa từng ngồi). Chỉ anh mới biết cái mà khách du lịch đáng “trải nghệm” nhất là nghe thấy hơi thở ấm nồng của em trong ngôi nhà này. Nhưng họ hoàn toàn không biết. Họ “vô cảm”, liếc qua đồ đạc, chụp một kiểu ảnh, rồi đi ra.
Mắt Trang buồn rợi, xa xăm:
- Anh nói làm em nhớ nôn nao Hà Nội.
- Ngôi nhà đợi em đấy.
Thu Trang uống hết ly cà phê, lại gọi thêm ly khác:
- Thế còn quê anh thì sao? Những đồi cam Bố Hạ nổi tiếng
- Đồi vẫn còn, cỏ  vẫn xanh mướt. Nhưng cam ngọt ngày xưa thì không còn… Một quả cũng không còn.
- Tại sao thế. Các anh đi làm cách mạng “giữ gìn non sông đất nước”. Sao lại để “mất trái cam ngọt”.
- Kinh tế thị trường xóa sổ nó. Cam ngọt quá khó trồng. Mà cam chua thì đâu cũng mọc, quả sai lúc lỉu. Cho một thìa đường vào là cốc cam chua thành cam ngọt…
Nhưng câu nói của em vừa rồi là “ác ý” lắm đấy…
- Em đùa thôi. Chứ em biết gì về chính trị. Em chỉ biết chuyện số phận. Em như cánh bèo gió trôi dạt.
- Em cũng là một “trái cam ngọt” mà anh đánh mất.
- Đánh mất rồi, bây giờ tìm lại được.
- Có tìm được không?
- Anh ơi, em luôn nhớ về ngày xưa. Thế thượng nguồn sông Thương, Bố Hạ, quê anh có còn cát sạch tinh, nước trong vắt, và trăng xanh?
- Sông giờ cũng đục lắm. Nhưng trăng thì vẫn còn.
- Bảo khoa học có thể bắn phá làm vỡ được hành tinh mặt trăng, để làm cái gì đó. Em thấy báo chí nói thế. Nghe nói trăng “bức xạ” cũng độc lắm, tác động đến hệ thần kinh.
- Vớ vẩn. Những chuyện “hết khôn dồn dại”…
- Nhưng làm gì còn vầng trăng tình thơ của chúng mình thuở ấy nữa.
- Ừ…
- Em và anh, tuy vậy bây giờ vẫn “cách xa nhau ngàn trùng”. Em là “người Mỹ gốc Việt”, còn anh là quan chức của chính phủ Việt Nam tại Mỹ. Ừ, không thể như ngày xưa tự do đưa nhau về chơi đồi cam. Nhà em cách đây 15 phút xe chạy. Tòa lãnh sự của anh chắc cũng không quá 15 phút. Vậy mà không thể đưa nhau về nhà, nấu nồi cơm gạo Dự, luộc đĩa rau muống, ngồi ăn với nhau.
Lát nữa, ta sẽ đưa nhau vào rét tâu răng, cầm dĩa chọc miếng pho mát mằn mặn, đĩa trứng cá sống tanh tanh, nhấp ly rượu vang chát chát…
Anh Quang ơi, đời em trôi nổi 40 năm qua, góc biển chân trời, em vẫn nhớ tình đầu. Nhiều đêm em đã khóc…
Nước mắt Thu Trang lại rơm rớm. Rồi tụ lại thành một giọt lệ, rơi xuống ly cà phê, như giọt sương rơi xuống hồ nước, làm bắn tóe lên. Cà phê thì ngọt. Lệ thì mặn, hai cái hòa vào nhau.
- Anh cũng nhớ em. Tình yêu của chúng mình ngày ấy mãnh liệt quá, làm anh sau đấy cạn kiệt năng lượng, không còn biết yêu là gì nữa. Năm 1954, từ Việt Bắc về thủ đô, anh đã khóc nấc giữa phố Hàng Đào, vì em đã di cư vào Sài Gòn. Năm 1975, anh về giải phóng Sài Gòn, đứng giữa dinh Độc lập, mắt cũng rơm rớm khi biết em đã di tản sang Mỹ.
Anh đi tìm em suốt 40 năm nay. Không hiểu sao lại thế. Tình yêu, với anh, chỉ một lần. Chỉ yêu mình em, không thể yêu ai khác được nữa. Nếu em có chồng con, thì anh vẫn cứ yêu đơn phương, yêu trong mộng…
- Thế ư hở anh – Thu Trang òa khóc.
- Nín đi en, Những người Tây họ đang nhìn mình kìa. Phụ nữ Mỹ cứng cỏi lắm, họ lạ lẫm cảnh “yếu đuối” này.
- Kệ họ. Khi đón người yêu, đón chồng từ châu Âu trở về sau chiến tranh thế giới thứ hai, họ cũng khóc òa trên đường phố như gió, như mưa.
*
*     *
Hà Nội, mùa đông năm 1946, trời rét căm căm. Cậu học sinh tú tài trường Bưởi Đức Quang và cô nữ sinh Đồng Khánh Thu Trang đứng bên cây lộc vừng trụi lá bên hồ Gươm.
Xe “liên kiểm” Việt – Pháp chạy rú còi dữ dằn. Hà Nội căng như dây đàn.
- Cuộc chiến Pháp – Việt có nổ ra không anh - Trang hỏi
- Khó mà tránh khỏi
- Bố mẹ em đã tản cư về nhà chú ruột em ở Vạn Phúc, Hà Đông. Kho tơ lụa cũng chuyển về đấy cả. Bố em bảo nhất định sẽ có chiến tranh. Hà Nội sẽ chìm trong khói lửa.
- Phía cách mạng rất mong muốn hòa bình. Anh đọc báo tiếng Pháp, và tiếng Việt hàng ngày, nắm tình hình rất rõ. Hiệp định Sơ bộ đã ký giữa ta và Pháp ngày 6-3 vừa rồi. Hội nghị Phông ten nơ blô đã thất bại. Phía cách mạng đã ký ngay sau đó Tạm ước 14-9 nhằm hòa hoãn. Nhưng thế lực chủ chiến ,diều hâu trong chính phủ Pháp quyết chiếm lại thuộc địa cũ.
- Thế là chiến tranh sẽ xẩy ra ư anh? Lo lắm.. Phải làm sao bây giờ.
- Em phải tản cư theo bố mẹ. Chiến tranh sẽ ác liệt lắm  đấy.
- Thế còn anh?
- Anh là con trai, là nam nhi. Nam nhi trốn vào xó bếp như con mèo sưởi ấm, chờ người khác đem lại hòa bình cho mình à? Anh cũng không về trang trại cam của cha anh đâu. Ở đó cũng sẽ có loạn lạc. Anh có ông chú ruột, làm chức to của cách mạng. Ông đi hoạt động từ năm 16 tuổi, vào tù ra  tội. Ông vừa gặp anh, bảo anh phải đi theo cách mạng, phải là chiến sĩ, là người lính của cách mạng.
Anh có dự buổi lễ Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình hôm 2-9 vừa rồi. Xúc động lắm. Đúng là nước Pháp vô lý thật. Từ đâu đến đây xâm chiếm nước mình. Biến mình thành thuộc địa. Nhưng chủ nghĩa thực dân đang vào thời suy tàn trên toàn thế giới. Dân tộc nào cũng phải đứng lên đấu tranh giành độc lập. Việt Nam mình cũng thế. Anh phải tham gia vào cuộc chiến giành độc lập này, mới đáng làm người. Em biết không, anh tìm được toàn văn bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, trong đó có một câu rất hay:”Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa đã ban cho họ những quyền không ai có thể chối cãi được, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc…”
Bản tuyên ngôn độc lập 2-9 của Việt Nam mình trích lại nguyên văn câu đó. Vậy là lý tưởng của Việt Nam mình rất rõ. Anh sẽ chiến đấu cho lý tưởng đó…
- Vậy là anh và em phải xa nhau ư?
- Chú anh bảo quân Cách mạng sẽ rút lên Việt Bắc lập căn cứ địa… Anh sẽ lên Việt Bắc
- Việt Bắc xa lắm, toàn rừng xanh núi đỏ, ăn sắn khoai, uống nước suối rừng..
- Đời chiến sĩ thời nào chả gian khổ? Ta đợi nhau, ngày chiến thắng, anh sẽ về.
- Bao giờ chiến thắng?
- Chắc không lâu. Vì cả dân tộc đã đứng lên đánh quân xâm lược. Chúng mình đều còn rất trẻ. Đợi nhau ít năm, cũng là chuyện bình thường.
Cuộc chiến Pháp – Việt sẽ nổ ra ngay ngày mai, ngày kia, không lâu đâu. Hà Nội sẽ đất trời bốc lửa, nghi ngút “khói kinh thành”, và lại giống như cảnh tả trong “Chinh phụ ngâm”, em có nhớ bài “Chinh phụ ngâm” ở chương tranh Việt văn.
- Có chứ
- Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt/ Khói cam tuyền mờ mịt thức mây / Chín tầng gươm báu trao tay / Nửa đêm truyền hịch đi ngày xuất chinh…
- Chốn kinh thành ba trăm năm cũ – Thu Trang tranh lấy đọc tiếp – Áo nhung trao quan vũ từ  đây / Sứ trời sớm giục đường mây / Phép công là trọng niềm tây xá gì… Chúng mình cũng sẽ như thế à…
- Ừ, như thế.
Đức Quang chẳng bao giờ quên được hình ảnh đêm đơn vị anh rời Hà Nội qua ngả Hà Đông, lên Việt Bắc. Trang đứng đón, tiễn anh bên đường…
Trang vẫn mặc áo trắng nữ sinh, còn Quang đội mũ ca nô, áo xám trấn thủ, súng khoác vai… đã rõ ràng hình ảnh chiến binh.
Tiếng quân đi rầm rập, và đâu đây, tiếng kèn ácmônica đang dập điệu quân hành trong nền khói lửa kinh thành mù mịt sau lưng.
Quang lại nhớ cảnh chia tay tả trong Chinh phụ ngâm: “Áo chàng đỏ tựa ráng pha / Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in / Tiếng ngạc ngựa lần chen tiếng trống / Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay…”.
Quang hôm ấy áo cỏ, chân đất, không có “ngựa sắc trắng”, nhưng cảnh này thì gần giống: “Nhủ rồi tay lại trao liền / Bước đi một bước lại vin áo chàng”, Trang lẽo đẽo theo Quang, nắm chặt tay anh không rời. Mãi đến khi đơn vị đi đã khá xa, Quang mới gỡ ra:
- Thôi, em về đi.
-  Đừng quên nhau nhé. Bao giờ cuộc chiến chấm dứt, chúng mình gặp nhau. Mãi mãi, em chờ anh…
Chín năm kháng chiến, Quang là người lính đánh từ chiến dịch Biên giới Cao – Bắc – Lạng, đánh tới Điện Biên. Về giải phóng Thủ đô năm 1954, mũ nan bọc vải gắn sao vàng, ngực lấp lánh huân chương, trên vai quân hàm Trung úy, súng lục bên hông, năm ấy anh mới 26 tuổi…
*
*    *
Gia đình ông bà Kỳ Thanh (bố mẹ Thu trang) bán hết kho hàng tơ lụa cho người em ruột ở Vạn Phúc Hà Đông. Mấy năm “tạm chiếm”, Hà nội khá phồn hoa, cửa hàng lụa Hàng Đào của ông làm ăn phát đạt. Ngỡ tưởng cuộc đời cứ như thế. Ai ngờ…
Ông Kỳ Thanh không thể ở lại được. Phe cách mạng sẽ về tiếp quản Hà Nội. Phe quốc gia về Nam vĩ tuyến 17, Sài Gòn…
Người em ruột hỏi ông Kỳ Thanh:
- Thời nào thì con người  cũng cần tơ lụa để mặc. Vậy anh ở lại buôn bán, sợ gì.
- Không. Chú không hiểu thời cuộc. Chế độ mới là chế độ tập thể, không được tư hữu, buôn bán tư nhân. Nhà tôi sẽ bị quy là tư sản bóc lột, bị đi tù và bị tịch thu của cải. Tôi chỉ biết buôn bán làm ăn, chẳng dính dáng gì đến chính trị. Tôi vào Sài Gòn để tiếp tục buôn bán.
- Anh đi để lại ngôi nhà – tiệm hàng ,hái ra tiền giữa phố Hàng Đào này ư.
- Đằng nào thì cũng mất. Nếu bây giờ tôi sang tên cho chú tức là gây tai họa cho chú. Chú cũng sẽ bị quy là tư sản, bị đi tù oan gia. Chỉ có một cách, con Thu Trang có người yêu là Đức Quang lên Việt Bắc kháng chiến đã chín năm. Bây giờ tôi viết giấy tặng ngôi nhà này cho Đức Quang. Nó là sĩ quan cách mạng, về Hà Nội, chắc giữ được. Tôi gửi chú văn bản viết tay có chữ ký, điểm chỉ này, khi thấy Đức Quang về Hà nội, chú phải tìm đưa ngay cho nó.
Khổ thân con Trang và thằng Quang. Chúng nó yêu nhau lắm. Nhưng thời cuộc, chiến tranh chia rẽ. Con Trang nhất quyết đợi chờ, như người đi tu, không yêu ai. Mẹ nó khóc hết nước mắt. Vợ chồng tôi chỉ có một mụn con gái. Gái rượu. Thế mà nó đòi một mình ở lại, chờ Quang, mặc cho bố mẹ vào Nam.
Cậu Trọng Đàn, con ông bà Hòa Phát ở phố Hàng Ngang gần đây, đang học trường Võ bị Đà lạt, có ý quyến luyến con Trang. Hai gia đình là chỗ thân thiết. Rồi tôi sẽ lựa lời khuyên nhủ cho nó thành đôi. Kỳ này, ông bà Hòa Phát cũng di cư cùng vợ chồng tôi. Tôi “tặng” ngôi nhà này cho Đức Quang cũng là nghĩa cử “trả ơn” nó. “Trả ơn” tình yêu của nó. Cũng là làm dịu lòng con Trang. Tặng thì cứ tặng, còn nó có giữ được hay không là chuyện khác. Chuyện của nó. Phần tôi, đằng nào cũng mất. Vào Sài Gòn, sẽ gây dựng lại cơ nghiệp.
- Em vẫn thắc mắc là tại sao anh cứ phải di cư mới được.
- Chú là tiểu chủ, vài không dệt, chú không sợ. Còn tôi thì khác. Nói để chú biết nhé, đừng bép xép mà chết oan. Tôi có hai người quen. Thứ nhất là ông Thiều Chửu. Thứ hai là bà Nguyễn Thị Năm. Bà Năm là bạn buôn hàng tơ lụa, nhưng về Thái Nguyên mở đồn điền. Thái Nguyên là vùng giải phóng của cách mạng. Bà Năm ủng hộ cả trăm lượng vàng cho cách mạng, nuôi cả đoàn  quân trong nhà, bà vốn thích cách mạng. Năm 1952, bắt đầu Cải cách ruộng đất. Ông Kiều Hiểu Quang, phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây Trung Quốc, được sang Việt Nam với danh nghĩa cố vấn, nhưng thực chất là chỉ đạo Cải cách ruộng đất, ép ta phải làm. Đau đớn lắm. Cải cách ruộng đất lôi bà Năm ra bắn, làm “mô hình” theo chỉ đạo của Kiều Hiểu Quang. Lúc bị lôi đi, bà Năm ném vội cho con dâu túi kim cương vẫn giắt bên người. Đội trông thấy tịch thu mất… 46 tuổi, giầu sang, xinh đẹp, bà Năm thân trần ra bãi pháp trường.
Còn ông Thiều Chửu, học rộng tài cao, vùi đầu vào học thuật. Ông soạn bộ Từ điển Hán Việt nổi tiếng. Mộ đạo, thích giáo lý từ bi bác ái của Đức Phật, ông tập hợp được nhiều thiện nam tín nữ, quên hết “tham, sân, si” ngoài đời, mở một “Trang trại Phật giáo” tại vùng giải phóng, chuyên tụng kinh niệm Phật, tăng gia sản xuất để có của làm việc thiện. Thế mà Kiều Hiểu Quang chỉ đạo quy ông là bóc lột, mê tín dị đoan .v.v… Uất ức quá, ông thắt cổ tự tử…
Đấy, tình hình như thế, mà chú bảo tôi ở lại được à …
Chuyến “tầu há mồm” rời Hải Phòng đi Sài Gòn hôm ấy, có một cô gái trẻ vừa bước xuống tàu vừa khóc. Bà mẹ van vỉ:
- Con ơi, bỏ hết cửa nhà ra đi, lòng mẹ tan nát lắm rồi. Thế mà con còn khóc lóc rỗi hơn, mẹ làm sao sống được.
Chiếc tàu chở khách di cư hú một hồi còi ảo não vĩnh biệt đất Bắc, phăm phăm rẽ sóng ra khơi…
Ngôi nhà số X.Y tơ lụa Hàng Đào đóng cửa từ hôm ấy, rêu đã lờ mờ trên bục gạch. Cho đến một hôm trời trong veo, cờ đỏ ngập phố, tiếng hò reo đón “Người giải phóng” trở về vang dội, có một sĩ quan, mũ kê pi, sao vàng quân hàm lấp lánh, bao súng lục đen bóng bên hông, dừng lại trước cửa. Chiếc khóa đã hoen rỉ. Anh nghẹn ngào. Ông tiểu chủ khung dệt Vạn Phúc Hà đông, nấp nom ở đâu, chạy ra lễ phép.
- Thưa đồng chí. Đồng chí có phải là Đức Quang, người yêu cũ của cô Thu Trang không ạ.
- Vâng, tôi là Đức Quang.
- Thưa… Ông Kỳ Thanh và cô Thu Trang có văn bản này nhờ tôi chuyển cho đồng chí. Và đây là chìa khóa ngôi nhà. Khóa tuy đã hoen rỉ, nhưng khéo mở vẫn được.
Đức Quang đứng chết sững giữa phố Hàng Đào. Đất trời chao đảo. Anh mở làm sao cũng không được chiếc khóa.
Nhưng mở để làm gì. Anh cũng không dám nhận ngôi nhà này, hay không được phép nhận, đồng nghĩa với không ai cho anh nhận. Anh mà là “con rể” của gia đình tư sản di cư vào Nam thì sẽ bị “ném ra ngoài rìa cuộc đời” tức thời… Ngôi sao trên ve áo sẽ lặn. Chàng trung úy sẽ bị đuổi ra  khỏi quân ngũ, vì liên quan đến thành phần theo địch…
Nhưng cái chính là anh đã mất Thu Trang rồi, thì ngôi nhà này còn có ý nghĩa gì.
Đức Quang xé tờ văn bản tặng nhà làm nhiều mảnh vụn vứt xuống rãnh “phi tang”, và trở lại đơn vị, ngủ trên chiếc giường cá nhân trong doanh trại.
*
*   *
Bà Thu Trang mở cửa ngôi nhà có dây leo hoa vàng ở Garden Grove, quận Cam. Con mèo trắng muốt chạy ra đón. Bà xào cho nó đĩa tôm riu. Ăn thức ăn công nghiệp cả tháng, chắc nó xót ruột…
Ngôi nhà đủ tiện nghi, ấm cúng, bao nhiêu năm nay, đã quen thân, mà bỗng dưng hôm nay sao có gì lạnh lẽo, trống trải, cô đơn.
Thu Trang có chồng, và có con. Nhưng lúc nãy bà đã nói là “không chồng, không con”. Nhưng lại không phải là nói dối. Vì hiện tại là bà đang sống một mình…
… Chả có “nhà chính khách” nào lại  nghĩ sau hai năm (1954 – 1956) sẽ tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Chỉ có cô gái ngây thơ Thu Trang là tin. Hai năm, cô bé sẽ trở lại Hà nội. Vì vậy suốt hai năm, cô không nghe bố mẹ, chủng chẳng với thiếu úy Trọng Đàn – con ông bà Hòa Phát.
Chỉ đến khi tuyệt vọng, vì đã hiểu hết nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa mở của các văn bản hiệp định ,Thu Trang mới bằng lòng nhận lời lấy Đàn. Đời lính trận mạc của Đàn “trải dài”. Tham gia đảo chính chính chính quyền độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, Đàn vọt lên hàm Đại tá. Đại tá đánh nhiều trận ở Đường chín – Nam Lào, ở Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972.
Năm 1975 Đàn là thiếu tướng chỉ huy quân miền Tây Nam Bộ. Ngày 30/4, quân miền Tây của Đàn còn nguyên sức chiến đấu, nhưng nghe lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh trên đài phát thanh, đã hạ vũ khí đầu hàng quân Giải phóng. Sau khi làm đủ mọi thủ tục, Đàn về sở chỉ huy cũ của mình. Phía Giải phóng hẹn gặp Đàn trong “buổi lễ đầu hàng” có quay phim chụp ảnh làm tư liệu lịch sử, vào hai giờ chiều, thì một giờ, một tiếng súng lục vang trong phòng chỉ huy. Người ta chạy vào, Đàn đã tự bắn vào đầu với bút tích để lại trên bàn: “Danh dự quân nhân không cho phép tôi tiếp tục có mặt trên đời”.
Phía Giải phóng làm tang lễ Đàn trọng thể.
Con giai Đàn và Thu Trang cũng là sĩ quan lúc ấy đang đóng ở Sài Gòn. Sau 30/4, con giai Đàn đem mẹ trốn xuống miền biển, cùng nhóm đồng đội, mua thuyền, hối lộ cảnh sát, vượt biên qua vùng biển Thái lan.Bọn “cướp biển Thái Lan” “chó cậy nhà, gà cậy chuồng” quen lệ, đã tấn công. Trước đây chúng đã giết nhiều “thuyền nhân” tay không, để cướp của cải. Nhưng lần này thuyền của con giai Đàn và nhóm sĩ quan có vũ khí, đã chiến đấu chống lại. Bọn cướp đông hơn, áp đảo. Con giai Đàn không may bị chúng bắn chết. Nhưng thuyền vượt biên thì chạy thoát đến đảo Bi Đông của Malayxia. Tổ chức tị nạn HCT của Liên Hợp quốc đã cho phép Thu Trang được sang Mỹ định cư.
Chồng chết, con chết, Thu Trang bơ phờ, bước lên đất Mỹ. Cái giá quá đắt.
Được các mục sư Tin lành giúp đỡ, Thu Trang bỡ ngỡ học những vần tiếng Anh đầu tiên để giao tiếp. Rồi sau đấy, hưởng trợ cấp thất nghiệp. Lần hồi, Trang đi làm “nai”, sơn móng chân móng tay, giành dụm được ít tiền gửi nhà băng. Bây giờ nhu cầu vật chất của Trang không nhiều. Bà sống một mình, với con mèo trắng, và thỉnh thoảng đi chợ rau ven đường, nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương…
*
*        *
Chiếc Méc xê đéc màu bạc biển số ngoại giao, lượn lờ mấy vòng trước cửa ngôi nhà dây leo hoa vàng ở Garden Grove.
Bầu trời Cali hôm nay rực sáng, nắng trong veo. Ngôi nhà dây leo hoa vàng có cánh cửa gỗ sồi ấm cúng.
Sao. Ta có dám đỗ xe, vào gõ cửa cánh cửa gỗ sồi kia không?
Ổ khóa cánh cửa nhà X.Y. Hàng Đào xưa hoen rỉ. Còn cánh cửa gỗ sồi kia khóa sáng loáng.
Ta không mở ổ khóa Hàng Đào vì bên trong không có Thu Trang ,còn hôm nay, trong ngôi nhà Garden Grove có Thu Trang. Vậy tại sao ta không gõ cửa.
Vì sao?
Còn vì sao nữa. Kỹ luật, quy chế của ngành ngoại giao nghiêm ngặt. Quan hệ Việt - Mỹ còn đang trong giai đoạn mở cửa dè dặt. Tổng lãnh sự có thể tự tiện đến chơi nhà người quốc tịch Mỹ mà không có sự giám sát của an ninh nội bộ không?
Chiếc Méc xê đéc biển số ngoại giao lượn thêm mấy vòng ,rồi về thẳng trụ sở Tổng lãnh sự…
Đức Quang thở dài. Ông nhìn mình trong gương. Tóc đã bạc trắng, đã sắp hết một đời người…
Ngày ấy, tại Hà Nội mới giải phóng, có một cô Văn công có “cảm tình” với Đức Quang. Cô hay hát bài Tình ca: “Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa / Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba / Em ơi nghe chăng lời trái tim vọng ra / Ngân trong không gian mặt biển sôi ầm vang…”.
Nhưng sao lòng Quang không xao động. Quang không tin những người con gái vừa đẹp, vừa có giọng hát hay. Các cô như con bướm vàng nhởn nhơ, lúc đậu bông hoa này, lúc đậu bông hoa khác.
Lòng Quang chỉ đau đáu nhớ Thu Trang. Nhưng không dám trao đổi “bưu thiếp”. Ngày ấy có loại thư gọi là bưu thiếp. Nam gửi ra Bắc, Bắc gửi vào Nam .Là một chiếc các bốt tan một mặt có ảnh danh lam thắng cảnh, mặt sau được viết mấy chữ thông tin chung chung. Bưu thiếp để trần, không có phong bì, để mọi người “cùng đọc”, và an ninh kiểm soát. Vậy thì ai còn dám viết gì ở đấy nữa.
Nhận “bưu thiếp” của người thân trong Nam gửi ra khác gì “lạy ông tôi ở bụi này”. Dần dà, “bưu thiếp” mất giống, chẳng ai dùng.
Không “bưu thiếp” nhưng hình ảnh Trang trong lòng Quang thì không lúc nào phai mờ.
Năm tháng trôi qua, trung úy Đức Quang mải mê với công việc. Anh đi học Học viện Quân sự nước ngoài để nắm vững nghệ thuật quân sự hiện đại. Về nước, lập tức lên đường vào Nam tham gia cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược.
Chiến trường khốc liệt. 10 năm trong rừng, tắm trong lửa đạn, anh gần như tách khỏi cuộc sống đời thường. Anh quên hết, quên hết, chỉ có nhiệm vụ trên vai… và chút tình hoài niệm cô nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa. Có lẽ anh là người đặc biệt. Người sắt đá. Nhưng anh là như thế. Đã như thế. Không giống người bình thường.
Có cái gì hơi “vô lý”. Nhưng anh “vô lý” thế đấy. Cực đoan. Suốt cả cuộc đời, hình bóng Thu Trang không bao giờ rời khỏi trái tim.
*
*        *
Phiên chợ rau cuối tuần ở quận Cam hôm nay li náo nức họp. Ông Đức Quang đi tắc xi đến. Bà Thu Trang đón ông ở cửa. Hai người mua một mớ rau cần, kèm rau má, rau dăm.
- Ba thứ này muối chua ngon lắm. Anh thèm ăn một bữa cơm với dưa cần muối tại nhà em.
- Điều đơn giản nhất đời mà ta không thực hiện được.
Hai người lại đến rét tâu răng.  Lại những miếng pho mát mằn mặn, đĩa trứng cá sống tanh tanh, ly rượu vang chát chát.
- Anh còn làm tổng lãnh sự ở Mỹ bao lâu nữa.
- Ba năm
- Sau đó anh về Việt Nam, và chúng mình lại vĩnh viễn xa nhau. Anh không thể là “người thường” được ư?  Người thường như khách du lịch, nhà kinh doanh, tự do đến nhà nhau chơi.
- Ba năm nữa là anh thành “người thường”, về hưu.
- Sao không xin về hưu ngay bây giờ.
- Nếu về hưu, thì anh lại phải rời nhiệm sở lãnh sự tức khắc, ri California tức khắc, không được ở Mỹ nữa.
- Oái ăm quá.
- Ừ, oái ăm thế đấy, cũng như em giờ quốc tịch Mỹ, công dân Mỹ, về Việt Nam phải có hộ chiếu, visa, ở lại Việt Nam trong thời hạn cho phép.
- Em và anh giờ là “hai thế giới”.
- Nhưng hãy nhớ rằng cả đời anh chỉ một lần yêu, một người yêu, đó là em.
- Chúng mình giờ như hai ngôi sao cô đơn ở hai góc trời…
Đức Quang nắm bàn tay Thu Trang. Bàn tay vẫn mềm mại, ấm nóng như xưa.
- Bây giờ phải làm thế nào?
- Phải làm thế nào?
- Em đang hỏi anh đấy!
- Anh cũng đang hỏi em đấy!
28/4/2014







Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

ĐỘI VĂN HÓA LƯU ĐỘNG

Truyện của
Nguyễn Phan Hách

Đội văn hóa lưu động của chúng tôi ngày ấy có năm người. Chị Thúy Thanh là trưởng đoàn. Thực ra chỉ có chị là “diễn viên chính ngạch”, hát múa có “bài bản”, còn tôi và “ba con nhóc”, Ty văn hóa mới nhặt từ các đội văn nghệ xã lên, trẻ ranh, vắt mũi chưa sạch.
Toàn tỉnh lúc ấy có bốn đội như thế, phân bố nhiều địa bàn trong tỉnh với nhiệm vụ đi về các trận địa pháo cao xạ, múa hát phục vụ bộ đội.
Trang bị của Đội nghèo nàn. “Trang âm” là hòm ắc quy có dây nối ra micro .“Dàn nhạc” có một cây nhị, một cây đàn bầu, một cây măng đô lin, tôi chơi là chính. “Ba con nhóc” cũng phải học phụ, để khi cần thì gẩy tấm tưng. Ba đứa, ngày xưa ở làng là ba “cái Hĩm”, cái “Gái”, nhưng lên đây chúng thành “Thúy” cả: Thúy Trinh, Thúy Trang, Thúy Như.
Thúy Trinh hát hay nhất. Còn Trang và Như thì loàng xoàng tàm tạm. Tuy vậy, chúng còn “có giọng”, chứ tôi thì chỉ là “thằng nhắng”, cái gì cũng biết một tý, nhưng chẳng cái gì đến nơi đến chốn. Tôi “ăn giải cạn” vì đoàn cần một thằng con giai mang vác đồ đạc.
Đại để hàng ngày công việc của chúng tôi như thế này: Buổi sáng đến một trận địa pháo nào đó… Các diễn viên thành “em gái” của các chiến sĩ. Vá áo cho chiến sĩ. Tâm sự chuyện trò. “Em gái hậu phương” ríu rít. Bộ đội quây quần. Hình bóng các cô, mái tóc dài thơm hoa bưởi, cánh tay trần trắng nõn còn nguyên phấn tuổi dậy thì, tiếng cười lanh lảnh trong veo … làm bừng sáng cả trận địa súng ống xù xì, lính tráng lộc ngộc, hố bom lở loét, mùi khói đạn khét lẹt lưu niên.
Đến mỗi trận địa, nhiệm vụ của tôi là phải nhanh chóng tìm hiểu địa danh, thành tích chiến đấu ở đây. Rồi bắt tay “sáng tác một bài hát chèo” nói về đơn vị này. Thực ra là đặt lời mới cho các làn điệu cổ. Các làn điệu Đào liễu, Tình thư hạ vị, Chức cẩm hồi văn… tôi đã thuộc lòng. Dán các lời mới vào nhanh như chớp.
Đại để sẽ như thế này… Dòng sông Cầu dạt dào xanh biếc (nếu trận địa gần sông Thương thì thay thành Sông Thương) .Núi Nham biền thấp thoáng bóng mây (Ch Nham biền, có thể thay tên khác) Súng cao nòng trận địa hôm nay. Quật ngã máy bay thù tan xác (nếu đơn vị đã hạ hai máy bay thì phải hát rõ là: hai máy bay thù tan xác).
Bài ấy sẽ hát mở màn…
Chúng tôi thường diễn trong hầm hào trận địa. Khi yên ắng, hát ngay bên mâm pháo. Đêm thì hát dưới trăng, không có đèn. Đèn lộ mục tiêu, máy bay Mỹ sẽ đến.
Phải nói “mấy con nhóc” khi hóa trang son phấn vào, chúng đẹp như tiên. Chính tôi cũng mê. Một khoảnh khắc làm tâm hồn các chiến sĩ suốt ngày đối mặt với đạn bom, được bay bổng, mơ màng. Bên cạnh tiết mục hát, tôi còn sáng tác các “hoạt cảnh” vui, tôi đóng vai hài. Nhưng giỏi nhất là “đạo diễn-tôi” lúc ấy đã biết nghĩ ra tiết mục: mời các chiến sĩ của đơn vị lên hát các bài đang thịnh hành thời ấy: Quảng Bình quê ta ơi; Tiếng đàn Ta lư; Trai anh hùng gái đảm đang; Trên quê hương quan họ vv…
Những buổi biểu diễn làm bừng lên không khí náo nức. Bộ đội, văn công, ríu rít, tình cảm, chia tay bịn rịn. Các chính trị viên phải công nhận nó có tác dụng động viên tinh thần chiến đấu, làm dịu sự căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh. Bộ đội tặng chúng tôi nhiều phong lương khô là “Cao hương mỹ vị” thời chiến, chỉ trong các đơn vị mới có…
Đoàn chúng tôi đóng trụ sở trong một xóm nhỏ, có vị trí trung bình cách các trận địa pháo trên dưới mười cây số. Năm người, năm chiếc xe đạp, khi cần phóng véo một cái là tới nơi.
Xóm trụ sở, xa đầu mối giao thông, ít bị oanh tạc. Dân tình bám ruộng sản xuất. Con gái ra đồng cấy lúa, đem theo súng trường, gặp máy bay là nằm ngửa ra, bắn lên trời. Bọn phi công không phải không khiếp vía, khi nhao xuống thấp cắt bom, bị cả một rừng súng trường khắp các cánh đồng bắn lên.
Máy bay Mỹ hồi ấy thả bom thường từng đợt, từng chiến dịch, đặt tên là “Sấm rền”. Có đợt “Sấm rền” liền cả tuần, rồi “lười”, nghỉ cả tháng, cả năm. Có đợt Sấm rền cứ vào 12 giờ trưa trở đi, gọi là “giờ cao điểm”. Người ta bảo trưa nắng phi công nhìn rõ mục tiêu. Nhưng cũng có đợt “Sấm rền” lại chỉ bắt đầu từ 8 giờ tối. Chúng có máy móc xác định mục tiêu thế nào đó, trong khi dân gian mình quan niệm là thằng phi công cứ phải thò đầu qua cửa kính nhìn xuống.
Những trận đánh đêm, cả bầu trời bừng nở pháo hoa. Bom thả xuống, đạn bắn lên vang rền. Mảnh đạn cao xạ sắc lẻm rơi lụp bụp xuống đất, trúng vỡ đầu. Vì thế hồi ấy toàn dân phải cỏ mũ rơm. Mũ rơm như mũ phớt rộng vành Mêhicô, không phải che mưa nắng mà để che đạn bom. Đấy là “thời trang” của dân tộc này. Đoàn chúng tôi, ngoài nón ba tầm trang phục biểu diễn, còn có “thời trang mũ rơm” lúc nào cũng kè kè bên người…
Càng trong các đợt “Sấm rền”, chúng tôi càng phải hoạt động hết công xuất. Nghe tin đánh ở đâu, là phải ngay lập tức có mặt ở đó. Trận địa tan hoang, hố bom vẫn nghi ngút khói, nòng pháo trúng bom cong queo, xác chiến sĩ hy sinh máu chảy chưa khô, người bị thương quằn quại. Đội văn công chúng tôi thành y ta chiến trường, xúm vào băng bó, khênh cáng. Chả cứ chúng tôi, các cô dân quân, mẹ chiến sĩ các làng xung quanh cùng có mặt kịp thời mang theo hoa trái, tặng bộ đội. Thường thì chỉ sau vài giờ, trận địa đã được “dọn dẹp sạch sẽ”. Pháo lại vào bệ ngay ngắn. Pháo thủ bổ xung phiên chế đ cơ số, kịp thời thay thế người đã chết. Khẩu đội trưởng đã vào vị trí tay lăm lăm cầm cờ lệnh đỏ chói, sẵn sàng đón trận đánh mới. Phóng viên báo chí “hớt hơ hớt hải” đạp xe đến, ghi ghi chép chép, chụp ảnh quay phim. Và chính lúc ấy văn công chúng tôi trình diễn, phấn son rực rỡ, yếm đào xà tích, áo mớ bẩy mớ ba, nón ba tầm khoác vai, đứng hát véo von, tay chân múa lượn, nhưng nhìn kỹ có khi tay còn vết máu chiến sĩ bị thương…
Ban đầu chỉ có chị Thúy Thanh và tôi là gan dạ trước cảnh bom đạn, người chết, còn ba con nhóc sợ run. Chúng luýnh qua luýnh quýnh băng bó cho bộ đội, mặt cắt không còn hột máu. Hát trước ống kính phóng viên mà chúng đứt cả hơi. Dần dà, mãi chúng mới đỡ sợ. Biểu diễn nơi trận địa rồi cũng dần thành “nghề” của chúng. Chúng không muốn về quê đi cấy, chân lấm tay bùn nữa, mà chỉ muốn ở đây làm “văn công”…
Thị xã Sông Thương ngày ấy có cầu lớn, đường sắt quốc gia chạy qua nên là “túi đựng bom”. Phố xá gần như đã bị san bằng, chỉ còn những đống gạch vụn. Quảng trường chi chít hố bom nước xanh lơ, ễnh ương bơi lội.
Nhiều đêm chúng tôi phải ở lại thị xã để phục vụ, vì ở đây dày đặc trận địa với các khẩu pháo cao xạ nòng chĩa thẳng hướng chính diện đón lõng máy bay lao xuống cắt bom...
Thị xã phồn hoa xưa, giờ chỉ thấy tiếng hót của chim rừng từ đâu bay lạc tới. Nhà ga lù mù ánh đèn dầu hỏa, những con tầu hồng hộc vội vã chạy qua. Sân ga vắng lặng, duy nhất có một bà bán nước chè xanh từ hồi chiến tranh phá hoại nổ ra đến giờ. Nhà ga là tiêu điểm số 1 bắn phá, ai phải qua đây, hớt hải chạy cho nhanh. Thế mà bà cứ ở đây năm này tháng khác. Chúng tôi cùng cảnh “dân thị xã” với bà, nên thân tình, kết nạp bà làm hàng xóm, thỉnh thoảng “ngồi vểnh râu” uống hớp nước chè xanh với kẹo lạc, trên “sân ga ấm cúng” sợ mất vía của bà.
Một lần, tin trên cho biết, ngày mai sẽ có đợt “Sấm rền” ác liệt nhất từ xưa tới nay, tại đây, chúng quyết  dứt điểm phá xập cầu, bom đạn sẽ khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi.
Đêm thị xã căng ra như dây đàn. Còn ai sót lại thì trốn hết.
Tôi gặp mấy ông xe thồ. Các ông này “anh hùng” chẳng kém ai, thường phục sẵn ở đây, bom dội, nhà đổ, là kịp thời lấy gạch vụn đi. Không nhanh, thằng “anh hùng” khác, nó tranh mất. Nhưng lần này mấy ông xe thồ cũng lục tục thu dọn đồ nghề bảo tôi: “Chuồn thôi chú mày ạ”.
Chị Thanh bàn bàn với tôi:
- Hay ta cũng tạm sơ tán qua đợt “Sấm rền” này.
Tôi bây giờ là “Chính ủy”, để nghĩ đã. Một mình tôi bước lơ vơ trên đường phố. Ngó vào căn nhà lở loét (xưa là trụ sở Đài phát thanh tỉnh) thấy có ánh đèn. Một anh phóng viên và một nhân viên kỹ thuật vồ lấy tôi như người giữa hoang đảo gặp nhau.
- Chúng tôi được “biệt phái” về đây trực chiến - Hai anh nói - Viết tin kịp thời tại chỗ, phát thanh tức thì ngay trong thời gian đang diễn ra trận đánh, để nâng cao tinh thần bộ đội, toàn dân sát cánh trực chiến bên các anh. Máy nổ và hệ thống loa tốt lắm, cả thị xã nghe được.
- Và tôi sẽ sáng tác ngay một bài hát chèo cập nhật tin chiến thắng, cho diễn viên hát trực tiếp trước máy- Tôi bổ xung kế hoạch.
- Hay quá . Tuyệt - Các anh reo. Tôi về thông báo công việc cho chị Thanh. Chị đồng ý, nhưng “ca sĩ” Thúy Trinh run cầm cập.
- Ở lại khác gì chìa tay ra hứng bom. Mọi lần là bình thường ,nhưng lần này ác liệt đặc biệt. Trên đã nói thế rồi. Ai bắt mình phải dán lưng xuống đất chịu bom.
- Nội thị xã này hiện còn vài trăm bộ đội dân quân, ngày mai, mặt đối mặt với địch. Ngày mai, nếu tiếng hát của chúng ta vang trên nền đạn bom, có tác dụng biết chừng nào.
Thúy Trinh khóc, lặng lẽ ra lấy xe đạp:
- Chị Thanh cho em về, em sợ lắm.
- Sao các lần trước không sợ
- Lần trước khác. Lần này khác. Trải qua vài lần, em đã ngấm đòn rồi. Cái chết kề bên.
Trinh lao xe ra đường, chạy trốn khỏi thị xã.
Trang và Như nhìn theo ngẩn ngơ.
Tôi quát:
- Cấm không cho cô nào được rời vị trí chiến đấu.
Chị Thanh cứng cỏi:
- T giờ phút này Trinh đã bị đuổi khỏi đoàn
Trang và Như nói:
- Có nó là hát hay nhất. Đuổi đi thì còn ai.
Chị Thanh dịu dàng:
- Hai em Trang và Như, ngày mai cứ mở miệng trên loa, dù thế nào chăng nữa cũng cứ thành tiếng hát tuyệt vời, khắc trong tâm khảm mọi người.
Quả nhiên trưa hôm sau, chiến dịch “Sấm rền” này của chúng khủng khiếp thật .Hàng đàn máy bay F105 hình cổ ngỗng dài ngoẵng, và F4 biệt hiệu Con Ma, hình chiếc vỉ ruồi, quần đảo, thả bom. Tuy nhiên bị pháo bắn dữ quá, cắt bom từ trên cao, nên vẫn không trúng cầu. Thị xã “vinh hạnh” hứng hết.
Chúng tôi ngồi dưới hầm đất rung xóc ốc.
Tôi bảo Trang và Như:
- Chúng mình được ẩn dưới hầm kín. Còn các chiến sĩ cao xạ và dân quân “lộ thiên” mặt đối mặt, nhìn thấy bom rơi như vãi đ trên đầu. Vậy ta sợ gì?
Một tiếng sau ,bom ngớt dần. Bọn phi công Mỹ chắc cũng nhát như cái Trinh nên bỏ chạy. Lập tức loa truyền thanh tỉnh vang dội vỡ òa đọc tin chiến thắng. Cầu vẫn còn nguyên. Một máy bay cổ ngỗng bị bắn trúng, lao xuống sông Thương, phi công nhảy dù nổi lềnh phềnh trên nước như Sứa, dân quân bơi thuyền ra bắt.
Với cái nội dung nhiều sự kiện như thế, mà loáng một cái tôi đã chuyển tải hết vào bài hát chèo điệu “Đào liễu”. Dẫn ba “ca sĩ anh hùng”, chúng tôi lao vót đến “Đài phát thanh”, và hát liền. Cả hệ thống loa oang oang. Tiếng hát ngân nga, tiếng nhị réo rắt vang trên “sa mạc” gạch vụn còn bốc hơi bom. Các trận địa pháo ngẩn ngơ. Các anh nghe trong gió văng vẳng lời ca, hát về trận đánh của các anh. Cả nước bên các anh, trong cuộc đấu kinh hoàng này.
Đài trực chiến, không có máy thu âm. Chúng tôi hát trực tiếp. Nghỉ một lúc, đọc tin. Đọc tin xong lại hát, cứ thế kéo dài...
Tuy vậy, buổi chiều hôm ấy, có một đại úy trợ lý tác chiến của Trung đoàn pháo đến gặp.
- Hoan nghênh các đồng chí. Nhưng cả tuần tới, chúng sẽ đánh phá ác liệt hơn nữa, xác xuất thương vong sẽ rất lớn. Thủ trưởng chúng tôi ra lệnh các đồng chí phải rời thị xã ngay.
Tôi chạy ra kéo tay bà bán nước ngoài ga, nhập đoàn. Mấy đồng chí phóng viên báo chí từ Hà Nội về bám trụ trận địa cũng được lệnh rút. Họ xuýt xoa những vết xây xước trên mặt, phủi đất bụi chiến hào.
- Đã là “mặt trận” thì có lúc “tiến vào”, có lúc “rút ra” - họ lý sự. Riêng hai nhân viên của Đài truyền thanh tỉnh “kháng lệnh”, không rời.
Về đến nhà, Thúy Trinh ôm lấy chúng tôi khóc. Trinh năn nỉ xin chị Thanh đừng đuổi. Nghĩ đuổi nó bây giờ cũng gay. Giọng nó như oang vàng, cất lên tất cả im phắc. Đuổi nó thì ai sẽ hát bây giờ, Trang và Như sao bằng được nó…
...Đội văn nghệ lưu động của chúng tôi dạo ấy nhiều ngày giáp trận căng thẳng, nhưng cũng có  những ngày thanh bình. Chúng tôi đang tuổi lớn, lại mơ mộng hát hò nên không thể không “lãng mạn”. Tôi thích cái Trinh, mỗi khi nghe nó hát, là lòng tôi xao xuyến. . Nhưng ngoài đời ngày thường ,nhìn nó gầy nhom, đen nhẻm, vú lép kẹp,  tôi không khỏi ngao ngán. Tôi thích Như, người nõn nà, ngực trắng muốt hở ra sau cổ áo trễ. Nhưng khi  nó lên sâu khấu , nhìn nó người ngay như ngỗng ỉa thì tôi lại chán...
Tôi chả biết nên như thế nào. Yêu Trinh hay là yêu Như. Còn Thúy Trang thì đã dứt khoát là không. Tôi với nó “xung khắc”. Nó chẳng coi tôi là cái “đinh rỉ” gì. Tôi biết nếu mà tôi mon men sờ đến gấu áo nó, nó tát cho một cái chứ chả đùa.Vì vậy không có vấn đề gì.
Chị Thúy Thanh đã qua lứa tuổi trẻ con. Chị là đàn chị, và đầy tâm sự. Mặt chị sáng vằng vặc, người cao lớn, nở nang, trắng nõn. Đến trận địa, các thủ trưởng đón chị trân trọng .Nhờ có chị mà chúng tôi được tiếp đãi như ông hoàng.Một lần có một  tiểu đoàn trưởng “hào hoa phong nhã” quyến luyến chị. Ông tiếp chị trong lều dã chiến, bàn phủ khăn trắng, cắm hoa cúc dại. Không biết ông nói gì mà trên đôi mi cong vút của chị long lanh một giọt nước mắt chảy dài.
- Bao giờ cuộc chiến này kết thúc hở anh - Chị hỏi.
Tiểu đoàn trưởng nói  chỉ biết rằng  cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng.
Chồng chị Thanh đi chiến trường miền Nam đã sáu, bảy năm. Báo chí luôn đăng tin chiến thắng, còn chồng chị thì không một dòng tin gửi về.
Chị là vợ có chồng đang chiến đấu ngoài mặt trận. Vị thế của chị đáng kính lắm. Chị phải giữ như giữ sơn hình ảnh cao quý ấy  của mình. Nhưng chị đang giữa tuổi xuân phơi phới, sức sống căng tràn, phải kìm nén lại. Chỉ còn biết trút vào tiếng hát. Vì thế tiếng hát của chị có gì sâu lắng, buồn buồn, chứ không lảnh lót hồn nhiên như bọn Thúy Trinh....
...Một lần tôi bắt gặp một mình chị tắm bờ sông đêm trăng. Tấm thân trần trắng muốt như tráng bạc. Chị bơi một vòng rồi dạo bờ cát. Tôi nấp sau bụi cây nhìn trộm. Trong tấm thân kia, một sức xuân ngùn ngụt đang bị gìm lại. Vì thế y tá cơ quan trước đây đã rỉ tai mọi người: Chị bị bệnh Íchtêri. Íchtêri tiếng Tây, nghĩa gì, chả ai biết. Người ta kiêng, không dịch ra tiếng ta. Nhưng đại khái nó là khi những khao khát tình dục mạnh quá, không được đáp ứng, người ta sẽ ngất đi. Ngất nhưng không chết được,  và cũng chả phải chạy chữa gì. Chỉ cần một bàn tay con giai xoa nhẹ vào đôi vú là Íchtêri sẽ tỉnh. Chuyện y tá nói tưởng chuyện đùa, ai ngờ một lần tôi được “trải nghiệm” thật. Hôm ấy, một chiều tháng ba nắng rấm rứt... Nắng tháng ba như lặn vào thịt da con gái, đốt lên sáng hồng. Nắng tháng ba làm chị Thanh bị một một cơn Íchtêri nặng. Tôi sang chơi ,thấy chị đang nằm “chết ngất” trong phòng, su chiêng phanh ra, hở đôi vú thần tiên. Tôi gọi mãi, chị không thưa. Tôi hoàn toàn vì tinh thần khoa học của bác sĩ, chứ không dám vớ vẩn gì, đưa tay xoa vú chị. Bác sĩ bảo chỉ cần xoa, nhưng tôi quá đà, ghé môi hôn vú chị. Hôn có hiệu nghiệm chữa bệnh hơn thật. Chị tỉnh dậy,  cười thẹn thùng:
- Cấm em không được nói với ai chuyện này nhé.
- Nhất định rồi
- Bây giờ bàn công việc. Ngay ngày mai xuống trận địa sông Cầu.
- Nhất trí
- Chị thấy cái Trinh với cái Như ,cả hai đều có vẻ “vấn vương” với em. Kỷ luật nghiêm đấy nhé. Không được lợi dụng hoàn cảnh “vào sống ra chết” của chiến tranh mà “sống gấp”, yêu đương bừa bãi.
- Vâng, em có làm gì đâu. Nhưng giả dụ em “yêu nghiêm túc” một đứa, cái Trinh hoặc cái Như, có được không?
- Yêu nghiêm túc thì được
- Theo chị, em nên yêu cái Trinh hay cái Như - Tôi hỏi?
- Khi em còn lựa chọn “tỉnh như sáo” thế tức là em chưa yêu ai. Yêu là phải mê muội cơ. Vì vậy tốt nhất là hãy chưa yêu. Để giành thời gian phấn đấu, tu dưỡng. Trên Ty văn hóa rất chú ý đến bọn mình. Có dịp là sẽ được bồi dưỡng đào tạo. Em còn quá trẻ, lại có “khả năng”, có “nhiệt tình”, tương  lai của em rất lớn.
Tôi nghe lời chị Thanh, không yêu ai lằng nhằng nữa…
Năm 1973, cuộc ném bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt. Các trận địa pháo rút dần, nên các đội văn hóa lưu động của chúng tôi cũng giải tán, rút về Ty nhập vào các đơn vị khác.
Tôi “nhiều thành tích” nên được cho đi “bổ túc văn hóa”, và bất ngờ được đi học  Liên Xô, ngành đạo diễn. Phong trào văn nghệ quần chúng đang phát triển rầm rộ. Tỉnh cần người có chuyên môn giỏi. Ừ, có thế chứ, có lẽ tôi lắm tài thật, gì cũng biết. Sáng tác chèo, kịch cương, hoạt cảnh, là linh hồn của Đội văn hóa lưu động, cùng chị Thanh tổ chức biểu diễn xông xáo suốt mấy năm qua. Đi học Đạo diễn là đúng rồi.
Sang đến Liên Xô, cả đoàn 16 người, phần lớn từ các Ty văn hóa các tỉnh. Bộ văn hóa đã ưu tiên chỉ tiêu đi học cho các cơ sở bám sát chiến đấu…
Các ông giáo sư Liên Xô thấy nhiều người học Đạo diễn quá, phải điều chuyển bớt sang các bộ môn khác, cho cân đối quy hoạch đào tạo. Thế là oái oăm thay, tôi được “ưu tiên”học nghề “cao sang” nhất: “Lý luận nghệ thuật”
Lý luận nghệ thuật là cái gì?
Là những lý thuyết kinh điển đầy những thuật ngữ trừu tượng, bí hiểm của các ông giáo sư đầu bạc ở Viện Akađêmi (Hàn lâm) mà phần lớn người ta nghe chẳng hiểu gì.
Khổ thân tôi, anh nhà quê viết hoạt cảnh chèo, kéo nhị ,làm gì có tư duy lý luận. Tuy vậy, tôi cũng không đến nỗi ngu dốt lắm. Tôi đánh vật với nó, “học gạo”, “học vẹt”, tiếng Nga cho giỏi, ghi bài cho đúng cho đủ, mua sắm cả đống tài liệu tham khảo để “ăn cóp”. Kỳ lạ thật, sau năm năm tôi thành “Phó tiến sĩ nghệ thuật” (Sau này gọi là tiến sĩ) giống y như sự kỳ lạ mấy năm lăn lóc ở các trận địa pháo mà không chết.
Tôi về nước ,giảng dậy bộ môn này ở trường Cao đẳng Sâu khấu và Điện ảnh. Rồi được phong Phó Giáo sư. Cũng là đúng thôi. Có ai được học bài bản chính quy như tôi. Các anh khác là “du kích”, bản năng, tự phát hết. Chỉ có tôi mới biết trịnh trọng dẫn ra những lời kinh điển dòng nào trang nào, nguyên văn tiếng Nga sách bìa cứng mạ vàng... Tôi đọc từng câu cho học trò chép. Chúng nghe tai nọ sang tai kia, nên tôi cũng không phải băn khoăn quá làm gì nội dung những lời kinh điển khó nhớ. Trốn được tý nào hay tý ấy. Thế là tất cả cùng ổn. Trò yên thân, mà thầy cũng yên thân…
Phần chị Thanh,rất tiến bộ ,dần dần sau  làm đến  Giám đốc Sở văn hóa rồi Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách văn xã. Chồng chị hy sinh ngay từ những ngày đầu vào chiến trường, mà đến năm 1975 chị mới biết. Tuy vậy chị vẫn không đi bước nữa.Tất cả dồn tâm huyết vào công tác . Chị là Ủy viên Hội đồng này nọ, chấp hành phụ nữ Trung ương vv…. Sức sống thanh xuân rừng rực một thời dần suy giảm, phai tàn mà chưa một lần được thỏa nguyện. Chị như đóa hoa tuyệt đẹp , nhưng ở chót vót trên cao, tỏa sắc hương cho mây trời, còn trần gian không ai biết.
Tôi thỉnh thoảng vẫn về thăm chị. Hai chị em trân trọng, thân tình. Nhưng tôi có thể giúp gì được cho người đàn bà tài sắc về già, cô đơn...
Bất ngờ nhất là Thúy Trinh. Con nhóc “đen nhẻm, xấu mù” xưa ,giờ thành Nghệ sĩ ưu tú, nổi danh với giọng hát chèo. Nó vẫn đùa tôi: “Ngày trước cậu chê tớ gầy đen, không lấy tớ. Thằng ngu. Gầy rồi tao sẽ béo. Giờ tao chả béo quay, luôn phải nhịn ăn để giảm cân. Béo rồi, da căng là thành trắng…
Tôi hỏi thăm Thúy Như. Như thì hát hỏng loàng xoàng, sau ra khỏi văn công, làm cán bộ hành chính. Như đẹp bệ vệ như bà “quan huyện”, dắt con gái đến trường bảo tôi:
- Cậu phải xin cho con tớ vào học trường này.
- Nó có năng khiếu gì?
- Như tớ ngày xưa
- Thôi, đừng làm khổ nó. Về cho học ngành kế toán, ngân hàng, hành chính gì đó.
Như nghe tôi. Lúc chia tay, nó thắc mắc:
- Nghe nói cậu là Phó Giáo sư, Tiến sĩ nghệ thuật mà chả bao giờ thấy viết báo, lên truyền hình bình luận về các tác phẩm nghệ thuật hiện tại của ta đang trình diễn trên ti vi.
- Những tác phẩm “ăn xôi ở thì”, “mì ăn liền”, giải trí câu khách ấy, tớ bình luận làm gì. Tớ nghiên cứu lý luận kinh điển về nghệ thuật đỉnh cao của nhân loại cơ mà…
Riêng có Thúy Trang, dù đã tìm kiếm, nhưng tôi vẫn không biết giờ nó làm gì, ở đâu, nó vào miền Nam  mất biến mất tăm. Tôi tức lắm, chắc nó giờ vẫn coi tôi chả là cái đinh rỉ gì, mà tôi thì rất muốn cho nó biết giờ tôi là ai...
Nhớ “ba con nhóc”, thỉnh thoảng tôi lại lấy chiếc nhị ra kéo một bài. Tiếng nhị nghẹn ngào run rẩy, chả có gì mà tự nhiên nước mắt ứa trên mi.

 Đại Yên, 20-3-2014




 ĐỘI VĂN HÓA LƯU ĐỘNG

Truyện của
Nguyễn Phan Hách

Đội văn hóa lưu động của chúng tôi ngày ấy có năm người. Chị Thúy Thanh là trưởng đoàn. Thực ra chỉ có chị là “diễn viên chính ngạch”, hát múa có “bài bản”, còn tôi và “ba con nhóc”, Ty văn hóa mới nhặt từ các đội văn nghệ xã lên, trẻ ranh, vắt mũi chưa sạch.
Toàn tỉnh lúc ấy có bốn đội như thế, phân bố nhiều địa bàn trong tỉnh với nhiệm vụ đi về các trận địa pháo cao xạ, múa hát phục vụ bộ đội.
Trang bị của Đội nghèo nàn. “Trang âm” là hòm ắc quy có dây nối ra micro .“Dàn nhạc” có một cây nhị, một cây đàn bầu, một cây măng đô lin, tôi chơi là chính. “Ba con nhóc” cũng phải học phụ, để khi cần thì gẩy tấm tưng. Ba đứa, ngày xưa ở làng là ba “cái Hĩm”, cái “Gái”, nhưng lên đây chúng thành “Thúy” cả: Thúy Trinh, Thúy Trang, Thúy Như.
Thúy Trinh hát hay nhất. Còn Trang và Như thì loàng xoàng tàm tạm. Tuy vậy, chúng còn “có giọng”, chứ tôi thì chỉ là “thằng nhắng”, cái gì cũng biết một tý, nhưng chẳng cái gì đến nơi đến chốn. Tôi “ăn giải cạn” vì đoàn cần một thằng con giai mang vác đồ đạc.
Đại để hàng ngày công việc của chúng tôi như thế này: Buổi sáng đến một trận địa pháo nào đó… Các diễn viên thành “em gái” của các chiến sĩ. Vá áo cho chiến sĩ. Tâm sự chuyện trò. “Em gái hậu phương” ríu rít. Bộ đội quây quần. Hình bóng các cô, mái tóc dài thơm hoa bưởi, cánh tay trần trắng nõn còn nguyên phấn tuổi dậy thì, tiếng cười lanh lảnh trong veo … làm bừng sáng cả trận địa súng ống xù xì, lính tráng lộc ngộc, hố bom lở loét, mùi khói đạn khét lẹt lưu niên.
Đến mỗi trận địa, nhiệm vụ của tôi là phải nhanh chóng tìm hiểu địa danh, thành tích chiến đấu ở đây. Rồi bắt tay “sáng tác một bài hát chèo” nói về đơn vị này. Thực ra là đặt lời mới cho các làn điệu cổ. Các làn điệu Đào liễu, Tình thư hạ vị, Chức cẩm hồi văn… tôi đã thuộc lòng. Dán các lời mới vào nhanh như chớp.
Đại để sẽ như thế này… Dòng sông Cầu dạt dào xanh biếc (nếu trận địa gần sông Thương thì thay thành Sông Thương) .Núi Nham biền thấp thoáng bóng mây (Ch Nham biền, có thể thay tên khác) Súng cao nòng trận địa hôm nay. Quật ngã máy bay thù tan xác (nếu đơn vị đã hạ hai máy bay thì phải hát rõ là: hai máy bay thù tan xác).
Bài ấy sẽ hát mở màn…
Chúng tôi thường diễn trong hầm hào trận địa. Khi yên ắng, hát ngay bên mâm pháo. Đêm thì hát dưới trăng, không có đèn. Đèn lộ mục tiêu, máy bay Mỹ sẽ đến.
Phải nói “mấy con nhóc” khi hóa trang son phấn vào, chúng đẹp như tiên. Chính tôi cũng mê. Một khoảnh khắc làm tâm hồn các chiến sĩ suốt ngày đối mặt với đạn bom, được bay bổng, mơ màng. Bên cạnh tiết mục hát, tôi còn sáng tác các “hoạt cảnh” vui, tôi đóng vai hài. Nhưng giỏi nhất là “đạo diễn-tôi” lúc ấy đã biết nghĩ ra tiết mục: mời các chiến sĩ của đơn vị lên hát các bài đang thịnh hành thời ấy: Quảng Bình quê ta ơi; Tiếng đàn Ta lư; Trai anh hùng gái đảm đang; Trên quê hương quan họ vv…
Những buổi biểu diễn làm bừng lên không khí náo nức. Bộ đội, văn công, ríu rít, tình cảm, chia tay bịn rịn. Các chính trị viên phải công nhận nó có tác dụng động viên tinh thần chiến đấu, làm dịu sự căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh. Bộ đội tặng chúng tôi nhiều phong lương khô là “Cao hương mỹ vị” thời chiến, chỉ trong các đơn vị mới có…
Đoàn chúng tôi đóng trụ sở trong một xóm nhỏ, có vị trí trung bình cách các trận địa pháo trên dưới mười cây số. Năm người, năm chiếc xe đạp, khi cần phóng véo một cái là tới nơi.
Xóm trụ sở, xa đầu mối giao thông, ít bị oanh tạc. Dân tình bám ruộng sản xuất. Con gái ra đồng cấy lúa, đem theo súng trường, gặp máy bay là nằm ngửa ra, bắn lên trời. Bọn phi công không phải không khiếp vía, khi nhao xuống thấp cắt bom, bị cả một rừng súng trường khắp các cánh đồng bắn lên.
Máy bay Mỹ hồi ấy thả bom thường từng đợt, từng chiến dịch, đặt tên là “Sấm rền”. Có đợt “Sấm rền” liền cả tuần, rồi “lười”, nghỉ cả tháng, cả năm. Có đợt Sấm rền cứ vào 12 giờ trưa trở đi, gọi là “giờ cao điểm”. Người ta bảo trưa nắng phi công nhìn rõ mục tiêu. Nhưng cũng có đợt “Sấm rền” lại chỉ bắt đầu từ 8 giờ tối. Chúng có máy móc xác định mục tiêu thế nào đó, trong khi dân gian mình quan niệm là thằng phi công cứ phải thò đầu qua cửa kính nhìn xuống.
Những trận đánh đêm, cả bầu trời bừng nở pháo hoa. Bom thả xuống, đạn bắn lên vang rền. Mảnh đạn cao xạ sắc lẻm rơi lụp bụp xuống đất, trúng vỡ đầu. Vì thế hồi ấy toàn dân phải cỏ mũ rơm. Mũ rơm như mũ phớt rộng vành Mêhicô, không phải che mưa nắng mà để che đạn bom. Đấy là “thời trang” của dân tộc này. Đoàn chúng tôi, ngoài nón ba tầm trang phục biểu diễn, còn có “thời trang mũ rơm” lúc nào cũng kè kè bên người…
Càng trong các đợt “Sấm rền”, chúng tôi càng phải hoạt động hết công xuất. Nghe tin đánh ở đâu, là phải ngay lập tức có mặt ở đó. Trận địa tan hoang, hố bom vẫn nghi ngút khói, nòng pháo trúng bom cong queo, xác chiến sĩ hy sinh máu chảy chưa khô, người bị thương quằn quại. Đội văn công chúng tôi thành y ta chiến trường, xúm vào băng bó, khênh cáng. Chả cứ chúng tôi, các cô dân quân, mẹ chiến sĩ các làng xung quanh cùng có mặt kịp thời mang theo hoa trái, tặng bộ đội. Thường thì chỉ sau vài giờ, trận địa đã được “dọn dẹp sạch sẽ”. Pháo lại vào bệ ngay ngắn. Pháo thủ bổ xung phiên chế đ cơ số, kịp thời thay thế người đã chết. Khẩu đội trưởng đã vào vị trí tay lăm lăm cầm cờ lệnh đỏ chói, sẵn sàng đón trận đánh mới. Phóng viên báo chí “hớt hơ hớt hải” đạp xe đến, ghi ghi chép chép, chụp ảnh quay phim. Và chính lúc ấy văn công chúng tôi trình diễn, phấn son rực rỡ, yếm đào xà tích, áo mớ bẩy mớ ba, nón ba tầm khoác vai, đứng hát véo von, tay chân múa lượn, nhưng nhìn kỹ có khi tay còn vết máu chiến sĩ bị thương…
Ban đầu chỉ có chị Thúy Thanh và tôi là gan dạ trước cảnh bom đạn, người chết, còn ba con nhóc sợ run. Chúng luýnh qua luýnh quýnh băng bó cho bộ đội, mặt cắt không còn hột máu. Hát trước ống kính phóng viên mà chúng đứt cả hơi. Dần dà, mãi chúng mới đỡ sợ. Biểu diễn nơi trận địa rồi cũng dần thành “nghề” của chúng. Chúng không muốn về quê đi cấy, chân lấm tay bùn nữa, mà chỉ muốn ở đây làm “văn công”…
Thị xã Sông Thương ngày ấy có cầu lớn, đường sắt quốc gia chạy qua nên là “túi đựng bom”. Phố xá gần như đã bị san bằng, chỉ còn những đống gạch vụn. Quảng trường chi chít hố bom nước xanh lơ, ễnh ương bơi lội.
Nhiều đêm chúng tôi phải ở lại thị xã để phục vụ, vì ở đây dày đặc trận địa với các khẩu pháo cao xạ nòng chĩa thẳng hướng chính diện đón lõng máy bay lao xuống cắt bom...
Thị xã phồn hoa xưa, giờ chỉ thấy tiếng hót của chim rừng từ đâu bay lạc tới. Nhà ga lù mù ánh đèn dầu hỏa, những con tầu hồng hộc vội vã chạy qua. Sân ga vắng lặng, duy nhất có một bà bán nước chè xanh từ hồi chiến tranh phá hoại nổ ra đến giờ. Nhà ga là tiêu điểm số 1 bắn phá, ai phải qua đây, hớt hải chạy cho nhanh. Thế mà bà cứ ở đây năm này tháng khác. Chúng tôi cùng cảnh “dân thị xã” với bà, nên thân tình, kết nạp bà làm hàng xóm, thỉnh thoảng “ngồi vểnh râu” uống hớp nước chè xanh với kẹo lạc, trên “sân ga ấm cúng” sợ mất vía của bà.
Một lần, tin trên cho biết, ngày mai sẽ có đợt “Sấm rền” ác liệt nhất từ xưa tới nay, tại đây, chúng quyết  dứt điểm phá xập cầu, bom đạn sẽ khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi.
Đêm thị xã căng ra như dây đàn. Còn ai sót lại thì trốn hết.
Tôi gặp mấy ông xe thồ. Các ông này “anh hùng” chẳng kém ai, thường phục sẵn ở đây, bom dội, nhà đổ, là kịp thời lấy gạch vụn đi. Không nhanh, thằng “anh hùng” khác, nó tranh mất. Nhưng lần này mấy ông xe thồ cũng lục tục thu dọn đồ nghề bảo tôi: “Chuồn thôi chú mày ạ”.
Chị Thanh bàn bàn với tôi:
- Hay ta cũng tạm sơ tán qua đợt “Sấm rền” này.
Tôi bây giờ là “Chính ủy”, để nghĩ đã. Một mình tôi bước lơ vơ trên đường phố. Ngó vào căn nhà lở loét (xưa là trụ sở Đài phát thanh tỉnh) thấy có ánh đèn. Một anh phóng viên và một nhân viên kỹ thuật vồ lấy tôi như người giữa hoang đảo gặp nhau.
- Chúng tôi được “biệt phái” về đây trực chiến - Hai anh nói - Viết tin kịp thời tại chỗ, phát thanh tức thì ngay trong thời gian đang diễn ra trận đánh, để nâng cao tinh thần bộ đội, toàn dân sát cánh trực chiến bên các anh. Máy nổ và hệ thống loa tốt lắm, cả thị xã nghe được.
- Và tôi sẽ sáng tác ngay một bài hát chèo cập nhật tin chiến thắng, cho diễn viên hát trực tiếp trước máy- Tôi bổ xung kế hoạch.
- Hay quá . Tuyệt - Các anh reo. Tôi về thông báo công việc cho chị Thanh. Chị đồng ý, nhưng “ca sĩ” Thúy Trinh run cầm cập.
- Ở lại khác gì chìa tay ra hứng bom. Mọi lần là bình thường ,nhưng lần này ác liệt đặc biệt. Trên đã nói thế rồi. Ai bắt mình phải dán lưng xuống đất chịu bom.
- Nội thị xã này hiện còn vài trăm bộ đội dân quân, ngày mai, mặt đối mặt với địch. Ngày mai, nếu tiếng hát của chúng ta vang trên nền đạn bom, có tác dụng biết chừng nào.
Thúy Trinh khóc, lặng lẽ ra lấy xe đạp:
- Chị Thanh cho em về, em sợ lắm.
- Sao các lần trước không sợ
- Lần trước khác. Lần này khác. Trải qua vài lần, em đã ngấm đòn rồi. Cái chết kề bên.
Trinh lao xe ra đường, chạy trốn khỏi thị xã.
Trang và Như nhìn theo ngẩn ngơ.
Tôi quát:
- Cấm không cho cô nào được rời vị trí chiến đấu.
Chị Thanh cứng cỏi:
- T giờ phút này Trinh đã bị đuổi khỏi đoàn
Trang và Như nói:
- Có nó là hát hay nhất. Đuổi đi thì còn ai.
Chị Thanh dịu dàng:
- Hai em Trang và Như, ngày mai cứ mở miệng trên loa, dù thế nào chăng nữa cũng cứ thành tiếng hát tuyệt vời, khắc trong tâm khảm mọi người.
Quả nhiên trưa hôm sau, chiến dịch “Sấm rền” này của chúng khủng khiếp thật .Hàng đàn máy bay F105 hình cổ ngỗng dài ngoẵng, và F4 biệt hiệu Con Ma, hình chiếc vỉ ruồi, quần đảo, thả bom. Tuy nhiên bị pháo bắn dữ quá, cắt bom từ trên cao, nên vẫn không trúng cầu. Thị xã “vinh hạnh” hứng hết.
Chúng tôi ngồi dưới hầm đất rung xóc ốc.
Tôi bảo Trang và Như:
- Chúng mình được ẩn dưới hầm kín. Còn các chiến sĩ cao xạ và dân quân “lộ thiên” mặt đối mặt, nhìn thấy bom rơi như vãi đ trên đầu. Vậy ta sợ gì?
Một tiếng sau ,bom ngớt dần. Bọn phi công Mỹ chắc cũng nhát như cái Trinh nên bỏ chạy. Lập tức loa truyền thanh tỉnh vang dội vỡ òa đọc tin chiến thắng. Cầu vẫn còn nguyên. Một máy bay cổ ngỗng bị bắn trúng, lao xuống sông Thương, phi công nhảy dù nổi lềnh phềnh trên nước như Sứa, dân quân bơi thuyền ra bắt.
Với cái nội dung nhiều sự kiện như thế, mà loáng một cái tôi đã chuyển tải hết vào bài hát chèo điệu “Đào liễu”. Dẫn ba “ca sĩ anh hùng”, chúng tôi lao vót đến “Đài phát thanh”, và hát liền. Cả hệ thống loa oang oang. Tiếng hát ngân nga, tiếng nhị réo rắt vang trên “sa mạc” gạch vụn còn bốc hơi bom. Các trận địa pháo ngẩn ngơ. Các anh nghe trong gió văng vẳng lời ca, hát về trận đánh của các anh. Cả nước bên các anh, trong cuộc đấu kinh hoàng này.
Đài trực chiến, không có máy thu âm. Chúng tôi hát trực tiếp. Nghỉ một lúc, đọc tin. Đọc tin xong lại hát, cứ thế kéo dài...
Tuy vậy, buổi chiều hôm ấy, có một đại úy trợ lý tác chiến của Trung đoàn pháo đến gặp.
- Hoan nghênh các đồng chí. Nhưng cả tuần tới, chúng sẽ đánh phá ác liệt hơn nữa, xác xuất thương vong sẽ rất lớn. Thủ trưởng chúng tôi ra lệnh các đồng chí phải rời thị xã ngay.
Tôi chạy ra kéo tay bà bán nước ngoài ga, nhập đoàn. Mấy đồng chí phóng viên báo chí từ Hà Nội về bám trụ trận địa cũng được lệnh rút. Họ xuýt xoa những vết xây xước trên mặt, phủi đất bụi chiến hào.
- Đã là “mặt trận” thì có lúc “tiến vào”, có lúc “rút ra” - họ lý sự. Riêng hai nhân viên của Đài truyền thanh tỉnh “kháng lệnh”, không rời.
Về đến nhà, Thúy Trinh ôm lấy chúng tôi khóc. Trinh năn nỉ xin chị Thanh đừng đuổi. Nghĩ đuổi nó bây giờ cũng gay. Giọng nó như oang vàng, cất lên tất cả im phắc. Đuổi nó thì ai sẽ hát bây giờ, Trang và Như sao bằng được nó…
...Đội văn nghệ lưu động của chúng tôi dạo ấy nhiều ngày giáp trận căng thẳng, nhưng cũng có  những ngày thanh bình. Chúng tôi đang tuổi lớn, lại mơ mộng hát hò nên không thể không “lãng mạn”. Tôi thích cái Trinh, mỗi khi nghe nó hát, là lòng tôi xao xuyến. . Nhưng ngoài đời ngày thường ,nhìn nó gầy nhom, đen nhẻm, vú lép kẹp,  tôi không khỏi ngao ngán. Tôi thích Như, người nõn nà, ngực trắng muốt hở ra sau cổ áo trễ. Nhưng khi  nó lên sâu khấu , nhìn nó người ngay như ngỗng ỉa thì tôi lại chán...
Tôi chả biết nên như thế nào. Yêu Trinh hay là yêu Như. Còn Thúy Trang thì đã dứt khoát là không. Tôi với nó “xung khắc”. Nó chẳng coi tôi là cái “đinh rỉ” gì. Tôi biết nếu mà tôi mon men sờ đến gấu áo nó, nó tát cho một cái chứ chả đùa.Vì vậy không có vấn đề gì.
Chị Thúy Thanh đã qua lứa tuổi trẻ con. Chị là đàn chị, và đầy tâm sự. Mặt chị sáng vằng vặc, người cao lớn, nở nang, trắng nõn. Đến trận địa, các thủ trưởng đón chị trân trọng .Nhờ có chị mà chúng tôi được tiếp đãi như ông hoàng.Một lần có một  tiểu đoàn trưởng “hào hoa phong nhã” quyến luyến chị. Ông tiếp chị trong lều dã chiến, bàn phủ khăn trắng, cắm hoa cúc dại. Không biết ông nói gì mà trên đôi mi cong vút của chị long lanh một giọt nước mắt chảy dài.
- Bao giờ cuộc chiến này kết thúc hở anh - Chị hỏi.
Tiểu đoàn trưởng nói  chỉ biết rằng  cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng.
Chồng chị Thanh đi chiến trường miền Nam đã sáu, bảy năm. Báo chí luôn đăng tin chiến thắng, còn chồng chị thì không một dòng tin gửi về.
Chị là vợ có chồng đang chiến đấu ngoài mặt trận. Vị thế của chị đáng kính lắm. Chị phải giữ như giữ sơn hình ảnh cao quý ấy  của mình. Nhưng chị đang giữa tuổi xuân phơi phới, sức sống căng tràn, phải kìm nén lại. Chỉ còn biết trút vào tiếng hát. Vì thế tiếng hát của chị có gì sâu lắng, buồn buồn, chứ không lảnh lót hồn nhiên như bọn Thúy Trinh....
...Một lần tôi bắt gặp một mình chị tắm bờ sông đêm trăng. Tấm thân trần trắng muốt như tráng bạc. Chị bơi một vòng rồi dạo bờ cát. Tôi nấp sau bụi cây nhìn trộm. Trong tấm thân kia, một sức xuân ngùn ngụt đang bị gìm lại. Vì thế y tá cơ quan trước đây đã rỉ tai mọi người: Chị bị bệnh Íchtêri. Íchtêri tiếng Tây, nghĩa gì, chả ai biết. Người ta kiêng, không dịch ra tiếng ta. Nhưng đại khái nó là khi những khao khát tình dục mạnh quá, không được đáp ứng, người ta sẽ ngất đi. Ngất nhưng không chết được,  và cũng chả phải chạy chữa gì. Chỉ cần một bàn tay con giai xoa nhẹ vào đôi vú là Íchtêri sẽ tỉnh. Chuyện y tá nói tưởng chuyện đùa, ai ngờ một lần tôi được “trải nghiệm” thật. Hôm ấy, một chiều tháng ba nắng rấm rứt... Nắng tháng ba như lặn vào thịt da con gái, đốt lên sáng hồng. Nắng tháng ba làm chị Thanh bị một một cơn Íchtêri nặng. Tôi sang chơi ,thấy chị đang nằm “chết ngất” trong phòng, su chiêng phanh ra, hở đôi vú thần tiên. Tôi gọi mãi, chị không thưa. Tôi hoàn toàn vì tinh thần khoa học của bác sĩ, chứ không dám vớ vẩn gì, đưa tay xoa vú chị. Bác sĩ bảo chỉ cần xoa, nhưng tôi quá đà, ghé môi hôn vú chị. Hôn có hiệu nghiệm chữa bệnh hơn thật. Chị tỉnh dậy,  cười thẹn thùng:
- Cấm em không được nói với ai chuyện này nhé.
- Nhất định rồi
- Bây giờ bàn công việc. Ngay ngày mai xuống trận địa sông Cầu.
- Nhất trí
- Chị thấy cái Trinh với cái Như ,cả hai đều có vẻ “vấn vương” với em. Kỷ luật nghiêm đấy nhé. Không được lợi dụng hoàn cảnh “vào sống ra chết” của chiến tranh mà “sống gấp”, yêu đương bừa bãi.
- Vâng, em có làm gì đâu. Nhưng giả dụ em “yêu nghiêm túc” một đứa, cái Trinh hoặc cái Như, có được không?
- Yêu nghiêm túc thì được
- Theo chị, em nên yêu cái Trinh hay cái Như - Tôi hỏi?
- Khi em còn lựa chọn “tỉnh như sáo” thế tức là em chưa yêu ai. Yêu là phải mê muội cơ. Vì vậy tốt nhất là hãy chưa yêu. Để giành thời gian phấn đấu, tu dưỡng. Trên Ty văn hóa rất chú ý đến bọn mình. Có dịp là sẽ được bồi dưỡng đào tạo. Em còn quá trẻ, lại có “khả năng”, có “nhiệt tình”, tương  lai của em rất lớn.
Tôi nghe lời chị Thanh, không yêu ai lằng nhằng nữa…
Năm 1973, cuộc ném bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt. Các trận địa pháo rút dần, nên các đội văn hóa lưu động của chúng tôi cũng giải tán, rút về Ty nhập vào các đơn vị khác.
Tôi “nhiều thành tích” nên được cho đi “bổ túc văn hóa”, và bất ngờ được đi học  Liên Xô, ngành đạo diễn. Phong trào văn nghệ quần chúng đang phát triển rầm rộ. Tỉnh cần người có chuyên môn giỏi. Ừ, có thế chứ, có lẽ tôi lắm tài thật, gì cũng biết. Sáng tác chèo, kịch cương, hoạt cảnh, là linh hồn của Đội văn hóa lưu động, cùng chị Thanh tổ chức biểu diễn xông xáo suốt mấy năm qua. Đi học Đạo diễn là đúng rồi.
Sang đến Liên Xô, cả đoàn 16 người, phần lớn từ các Ty văn hóa các tỉnh. Bộ văn hóa đã ưu tiên chỉ tiêu đi học cho các cơ sở bám sát chiến đấu…
Các ông giáo sư Liên Xô thấy nhiều người học Đạo diễn quá, phải điều chuyển bớt sang các bộ môn khác, cho cân đối quy hoạch đào tạo. Thế là oái oăm thay, tôi được “ưu tiên”học nghề “cao sang” nhất: “Lý luận nghệ thuật”
Lý luận nghệ thuật là cái gì?
Là những lý thuyết kinh điển đầy những thuật ngữ trừu tượng, bí hiểm của các ông giáo sư đầu bạc ở Viện Akađêmi (Hàn lâm) mà phần lớn người ta nghe chẳng hiểu gì.
Khổ thân tôi, anh nhà quê viết hoạt cảnh chèo, kéo nhị ,làm gì có tư duy lý luận. Tuy vậy, tôi cũng không đến nỗi ngu dốt lắm. Tôi đánh vật với nó, “học gạo”, “học vẹt”, tiếng Nga cho giỏi, ghi bài cho đúng cho đủ, mua sắm cả đống tài liệu tham khảo để “ăn cóp”. Kỳ lạ thật, sau năm năm tôi thành “Phó tiến sĩ nghệ thuật” (Sau này gọi là tiến sĩ) giống y như sự kỳ lạ mấy năm lăn lóc ở các trận địa pháo mà không chết.
Tôi về nước ,giảng dậy bộ môn này ở trường Cao đẳng Sâu khấu và Điện ảnh. Rồi được phong Phó Giáo sư. Cũng là đúng thôi. Có ai được học bài bản chính quy như tôi. Các anh khác là “du kích”, bản năng, tự phát hết. Chỉ có tôi mới biết trịnh trọng dẫn ra những lời kinh điển dòng nào trang nào, nguyên văn tiếng Nga sách bìa cứng mạ vàng... Tôi đọc từng câu cho học trò chép. Chúng nghe tai nọ sang tai kia, nên tôi cũng không phải băn khoăn quá làm gì nội dung những lời kinh điển khó nhớ. Trốn được tý nào hay tý ấy. Thế là tất cả cùng ổn. Trò yên thân, mà thầy cũng yên thân…
Phần chị Thanh,rất tiến bộ ,dần dần sau  làm đến  Giám đốc Sở văn hóa rồi Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách văn xã. Chồng chị hy sinh ngay từ những ngày đầu vào chiến trường, mà đến năm 1975 chị mới biết. Tuy vậy chị vẫn không đi bước nữa.Tất cả dồn tâm huyết vào công tác . Chị là Ủy viên Hội đồng này nọ, chấp hành phụ nữ Trung ương vv…. Sức sống thanh xuân rừng rực một thời dần suy giảm, phai tàn mà chưa một lần được thỏa nguyện. Chị như đóa hoa tuyệt đẹp , nhưng ở chót vót trên cao, tỏa sắc hương cho mây trời, còn trần gian không ai biết.
Tôi thỉnh thoảng vẫn về thăm chị. Hai chị em trân trọng, thân tình. Nhưng tôi có thể giúp gì được cho người đàn bà tài sắc về già, cô đơn...
Bất ngờ nhất là Thúy Trinh. Con nhóc “đen nhẻm, xấu mù” xưa ,giờ thành Nghệ sĩ ưu tú, nổi danh với giọng hát chèo. Nó vẫn đùa tôi: “Ngày trước cậu chê tớ gầy đen, không lấy tớ. Thằng ngu. Gầy rồi tao sẽ béo. Giờ tao chả béo quay, luôn phải nhịn ăn để giảm cân. Béo rồi, da căng là thành trắng…
Tôi hỏi thăm Thúy Như. Như thì hát hỏng loàng xoàng, sau ra khỏi văn công, làm cán bộ hành chính. Như đẹp bệ vệ như bà “quan huyện”, dắt con gái đến trường bảo tôi:
- Cậu phải xin cho con tớ vào học trường này.
- Nó có năng khiếu gì?
- Như tớ ngày xưa
- Thôi, đừng làm khổ nó. Về cho học ngành kế toán, ngân hàng, hành chính gì đó.
Như nghe tôi. Lúc chia tay, nó thắc mắc:
- Nghe nói cậu là Phó Giáo sư, Tiến sĩ nghệ thuật mà chả bao giờ thấy viết báo, lên truyền hình bình luận về các tác phẩm nghệ thuật hiện tại của ta đang trình diễn trên ti vi.
- Những tác phẩm “ăn xôi ở thì”, “mì ăn liền”, giải trí câu khách ấy, tớ bình luận làm gì. Tớ nghiên cứu lý luận kinh điển về nghệ thuật đỉnh cao của nhân loại cơ mà…
Riêng có Thúy Trang, dù đã tìm kiếm, nhưng tôi vẫn không biết giờ nó làm gì, ở đâu, nó vào miền Nam  mất biến mất tăm. Tôi tức lắm, chắc nó giờ vẫn coi tôi chả là cái đinh rỉ gì, mà tôi thì rất muốn cho nó biết giờ tôi là ai...
Nhớ “ba con nhóc”, thỉnh thoảng tôi lại lấy chiếc nhị ra kéo một bài. Tiếng nhị nghẹn ngào run rẩy, chả có gì mà tự nhiên nước mắt ứa trên mi.

 Đại Yên, 20-3-2014



 ĐỘI VĂN HÓA LƯU ĐỘNG

Truyện của
Nguyễn Phan Hách

Đội văn hóa lưu động của chúng tôi ngày ấy có năm người. Chị Thúy Thanh là trưởng đoàn. Thực ra chỉ có chị là “diễn viên chính ngạch”, hát múa có “bài bản”, còn tôi và “ba con nhóc”, Ty văn hóa mới nhặt từ các đội văn nghệ xã lên, trẻ ranh, vắt mũi chưa sạch.
Toàn tỉnh lúc ấy có bốn đội như thế, phân bố nhiều địa bàn trong tỉnh với nhiệm vụ đi về các trận địa pháo cao xạ, múa hát phục vụ bộ đội.
Trang bị của Đội nghèo nàn. “Trang âm” là hòm ắc quy có dây nối ra micro .“Dàn nhạc” có một cây nhị, một cây đàn bầu, một cây măng đô lin, tôi chơi là chính. “Ba con nhóc” cũng phải học phụ, để khi cần thì gẩy tấm tưng. Ba đứa, ngày xưa ở làng là ba “cái Hĩm”, cái “Gái”, nhưng lên đây chúng thành “Thúy” cả: Thúy Trinh, Thúy Trang, Thúy Như.
Thúy Trinh hát hay nhất. Còn Trang và Như thì loàng xoàng tàm tạm. Tuy vậy, chúng còn “có giọng”, chứ tôi thì chỉ là “thằng nhắng”, cái gì cũng biết một tý, nhưng chẳng cái gì đến nơi đến chốn. Tôi “ăn giải cạn” vì đoàn cần một thằng con giai mang vác đồ đạc.
Đại để hàng ngày công việc của chúng tôi như thế này: Buổi sáng đến một trận địa pháo nào đó… Các diễn viên thành “em gái” của các chiến sĩ. Vá áo cho chiến sĩ. Tâm sự chuyện trò. “Em gái hậu phương” ríu rít. Bộ đội quây quần. Hình bóng các cô, mái tóc dài thơm hoa bưởi, cánh tay trần trắng nõn còn nguyên phấn tuổi dậy thì, tiếng cười lanh lảnh trong veo … làm bừng sáng cả trận địa súng ống xù xì, lính tráng lộc ngộc, hố bom lở loét, mùi khói đạn khét lẹt lưu niên.
Đến mỗi trận địa, nhiệm vụ của tôi là phải nhanh chóng tìm hiểu địa danh, thành tích chiến đấu ở đây. Rồi bắt tay “sáng tác một bài hát chèo” nói về đơn vị này. Thực ra là đặt lời mới cho các làn điệu cổ. Các làn điệu Đào liễu, Tình thư hạ vị, Chức cẩm hồi văn… tôi đã thuộc lòng. Dán các lời mới vào nhanh như chớp.
Đại để sẽ như thế này… Dòng sông Cầu dạt dào xanh biếc (nếu trận địa gần sông Thương thì thay thành Sông Thương) .Núi Nham biền thấp thoáng bóng mây (Ch Nham biền, có thể thay tên khác) Súng cao nòng trận địa hôm nay. Quật ngã máy bay thù tan xác (nếu đơn vị đã hạ hai máy bay thì phải hát rõ là: hai máy bay thù tan xác).
Bài ấy sẽ hát mở màn…
Chúng tôi thường diễn trong hầm hào trận địa. Khi yên ắng, hát ngay bên mâm pháo. Đêm thì hát dưới trăng, không có đèn. Đèn lộ mục tiêu, máy bay Mỹ sẽ đến.
Phải nói “mấy con nhóc” khi hóa trang son phấn vào, chúng đẹp như tiên. Chính tôi cũng mê. Một khoảnh khắc làm tâm hồn các chiến sĩ suốt ngày đối mặt với đạn bom, được bay bổng, mơ màng. Bên cạnh tiết mục hát, tôi còn sáng tác các “hoạt cảnh” vui, tôi đóng vai hài. Nhưng giỏi nhất là “đạo diễn-tôi” lúc ấy đã biết nghĩ ra tiết mục: mời các chiến sĩ của đơn vị lên hát các bài đang thịnh hành thời ấy: Quảng Bình quê ta ơi; Tiếng đàn Ta lư; Trai anh hùng gái đảm đang; Trên quê hương quan họ vv…
Những buổi biểu diễn làm bừng lên không khí náo nức. Bộ đội, văn công, ríu rít, tình cảm, chia tay bịn rịn. Các chính trị viên phải công nhận nó có tác dụng động viên tinh thần chiến đấu, làm dịu sự căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh. Bộ đội tặng chúng tôi nhiều phong lương khô là “Cao hương mỹ vị” thời chiến, chỉ trong các đơn vị mới có…
Đoàn chúng tôi đóng trụ sở trong một xóm nhỏ, có vị trí trung bình cách các trận địa pháo trên dưới mười cây số. Năm người, năm chiếc xe đạp, khi cần phóng véo một cái là tới nơi.
Xóm trụ sở, xa đầu mối giao thông, ít bị oanh tạc. Dân tình bám ruộng sản xuất. Con gái ra đồng cấy lúa, đem theo súng trường, gặp máy bay là nằm ngửa ra, bắn lên trời. Bọn phi công không phải không khiếp vía, khi nhao xuống thấp cắt bom, bị cả một rừng súng trường khắp các cánh đồng bắn lên.
Máy bay Mỹ hồi ấy thả bom thường từng đợt, từng chiến dịch, đặt tên là “Sấm rền”. Có đợt “Sấm rền” liền cả tuần, rồi “lười”, nghỉ cả tháng, cả năm. Có đợt Sấm rền cứ vào 12 giờ trưa trở đi, gọi là “giờ cao điểm”. Người ta bảo trưa nắng phi công nhìn rõ mục tiêu. Nhưng cũng có đợt “Sấm rền” lại chỉ bắt đầu từ 8 giờ tối. Chúng có máy móc xác định mục tiêu thế nào đó, trong khi dân gian mình quan niệm là thằng phi công cứ phải thò đầu qua cửa kính nhìn xuống.
Những trận đánh đêm, cả bầu trời bừng nở pháo hoa. Bom thả xuống, đạn bắn lên vang rền. Mảnh đạn cao xạ sắc lẻm rơi lụp bụp xuống đất, trúng vỡ đầu. Vì thế hồi ấy toàn dân phải cỏ mũ rơm. Mũ rơm như mũ phớt rộng vành Mêhicô, không phải che mưa nắng mà để che đạn bom. Đấy là “thời trang” của dân tộc này. Đoàn chúng tôi, ngoài nón ba tầm trang phục biểu diễn, còn có “thời trang mũ rơm” lúc nào cũng kè kè bên người…
Càng trong các đợt “Sấm rền”, chúng tôi càng phải hoạt động hết công xuất. Nghe tin đánh ở đâu, là phải ngay lập tức có mặt ở đó. Trận địa tan hoang, hố bom vẫn nghi ngút khói, nòng pháo trúng bom cong queo, xác chiến sĩ hy sinh máu chảy chưa khô, người bị thương quằn quại. Đội văn công chúng tôi thành y ta chiến trường, xúm vào băng bó, khênh cáng. Chả cứ chúng tôi, các cô dân quân, mẹ chiến sĩ các làng xung quanh cùng có mặt kịp thời mang theo hoa trái, tặng bộ đội. Thường thì chỉ sau vài giờ, trận địa đã được “dọn dẹp sạch sẽ”. Pháo lại vào bệ ngay ngắn. Pháo thủ bổ xung phiên chế đ cơ số, kịp thời thay thế người đã chết. Khẩu đội trưởng đã vào vị trí tay lăm lăm cầm cờ lệnh đỏ chói, sẵn sàng đón trận đánh mới. Phóng viên báo chí “hớt hơ hớt hải” đạp xe đến, ghi ghi chép chép, chụp ảnh quay phim. Và chính lúc ấy văn công chúng tôi trình diễn, phấn son rực rỡ, yếm đào xà tích, áo mớ bẩy mớ ba, nón ba tầm khoác vai, đứng hát véo von, tay chân múa lượn, nhưng nhìn kỹ có khi tay còn vết máu chiến sĩ bị thương…
Ban đầu chỉ có chị Thúy Thanh và tôi là gan dạ trước cảnh bom đạn, người chết, còn ba con nhóc sợ run. Chúng luýnh qua luýnh quýnh băng bó cho bộ đội, mặt cắt không còn hột máu. Hát trước ống kính phóng viên mà chúng đứt cả hơi. Dần dà, mãi chúng mới đỡ sợ. Biểu diễn nơi trận địa rồi cũng dần thành “nghề” của chúng. Chúng không muốn về quê đi cấy, chân lấm tay bùn nữa, mà chỉ muốn ở đây làm “văn công”…
Thị xã Sông Thương ngày ấy có cầu lớn, đường sắt quốc gia chạy qua nên là “túi đựng bom”. Phố xá gần như đã bị san bằng, chỉ còn những đống gạch vụn. Quảng trường chi chít hố bom nước xanh lơ, ễnh ương bơi lội.
Nhiều đêm chúng tôi phải ở lại thị xã để phục vụ, vì ở đây dày đặc trận địa với các khẩu pháo cao xạ nòng chĩa thẳng hướng chính diện đón lõng máy bay lao xuống cắt bom...
Thị xã phồn hoa xưa, giờ chỉ thấy tiếng hót của chim rừng từ đâu bay lạc tới. Nhà ga lù mù ánh đèn dầu hỏa, những con tầu hồng hộc vội vã chạy qua. Sân ga vắng lặng, duy nhất có một bà bán nước chè xanh từ hồi chiến tranh phá hoại nổ ra đến giờ. Nhà ga là tiêu điểm số 1 bắn phá, ai phải qua đây, hớt hải chạy cho nhanh. Thế mà bà cứ ở đây năm này tháng khác. Chúng tôi cùng cảnh “dân thị xã” với bà, nên thân tình, kết nạp bà làm hàng xóm, thỉnh thoảng “ngồi vểnh râu” uống hớp nước chè xanh với kẹo lạc, trên “sân ga ấm cúng” sợ mất vía của bà.
Một lần, tin trên cho biết, ngày mai sẽ có đợt “Sấm rền” ác liệt nhất từ xưa tới nay, tại đây, chúng quyết  dứt điểm phá xập cầu, bom đạn sẽ khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi.
Đêm thị xã căng ra như dây đàn. Còn ai sót lại thì trốn hết.
Tôi gặp mấy ông xe thồ. Các ông này “anh hùng” chẳng kém ai, thường phục sẵn ở đây, bom dội, nhà đổ, là kịp thời lấy gạch vụn đi. Không nhanh, thằng “anh hùng” khác, nó tranh mất. Nhưng lần này mấy ông xe thồ cũng lục tục thu dọn đồ nghề bảo tôi: “Chuồn thôi chú mày ạ”.
Chị Thanh bàn bàn với tôi:
- Hay ta cũng tạm sơ tán qua đợt “Sấm rền” này.
Tôi bây giờ là “Chính ủy”, để nghĩ đã. Một mình tôi bước lơ vơ trên đường phố. Ngó vào căn nhà lở loét (xưa là trụ sở Đài phát thanh tỉnh) thấy có ánh đèn. Một anh phóng viên và một nhân viên kỹ thuật vồ lấy tôi như người giữa hoang đảo gặp nhau.
- Chúng tôi được “biệt phái” về đây trực chiến - Hai anh nói - Viết tin kịp thời tại chỗ, phát thanh tức thì ngay trong thời gian đang diễn ra trận đánh, để nâng cao tinh thần bộ đội, toàn dân sát cánh trực chiến bên các anh. Máy nổ và hệ thống loa tốt lắm, cả thị xã nghe được.
- Và tôi sẽ sáng tác ngay một bài hát chèo cập nhật tin chiến thắng, cho diễn viên hát trực tiếp trước máy- Tôi bổ xung kế hoạch.
- Hay quá . Tuyệt - Các anh reo. Tôi về thông báo công việc cho chị Thanh. Chị đồng ý, nhưng “ca sĩ” Thúy Trinh run cầm cập.
- Ở lại khác gì chìa tay ra hứng bom. Mọi lần là bình thường ,nhưng lần này ác liệt đặc biệt. Trên đã nói thế rồi. Ai bắt mình phải dán lưng xuống đất chịu bom.
- Nội thị xã này hiện còn vài trăm bộ đội dân quân, ngày mai, mặt đối mặt với địch. Ngày mai, nếu tiếng hát của chúng ta vang trên nền đạn bom, có tác dụng biết chừng nào.
Thúy Trinh khóc, lặng lẽ ra lấy xe đạp:
- Chị Thanh cho em về, em sợ lắm.
- Sao các lần trước không sợ
- Lần trước khác. Lần này khác. Trải qua vài lần, em đã ngấm đòn rồi. Cái chết kề bên.
Trinh lao xe ra đường, chạy trốn khỏi thị xã.
Trang và Như nhìn theo ngẩn ngơ.
Tôi quát:
- Cấm không cho cô nào được rời vị trí chiến đấu.
Chị Thanh cứng cỏi:
- T giờ phút này Trinh đã bị đuổi khỏi đoàn
Trang và Như nói:
- Có nó là hát hay nhất. Đuổi đi thì còn ai.
Chị Thanh dịu dàng:
- Hai em Trang và Như, ngày mai cứ mở miệng trên loa, dù thế nào chăng nữa cũng cứ thành tiếng hát tuyệt vời, khắc trong tâm khảm mọi người.
Quả nhiên trưa hôm sau, chiến dịch “Sấm rền” này của chúng khủng khiếp thật .Hàng đàn máy bay F105 hình cổ ngỗng dài ngoẵng, và F4 biệt hiệu Con Ma, hình chiếc vỉ ruồi, quần đảo, thả bom. Tuy nhiên bị pháo bắn dữ quá, cắt bom từ trên cao, nên vẫn không trúng cầu. Thị xã “vinh hạnh” hứng hết.
Chúng tôi ngồi dưới hầm đất rung xóc ốc.
Tôi bảo Trang và Như:
- Chúng mình được ẩn dưới hầm kín. Còn các chiến sĩ cao xạ và dân quân “lộ thiên” mặt đối mặt, nhìn thấy bom rơi như vãi đ trên đầu. Vậy ta sợ gì?
Một tiếng sau ,bom ngớt dần. Bọn phi công Mỹ chắc cũng nhát như cái Trinh nên bỏ chạy. Lập tức loa truyền thanh tỉnh vang dội vỡ òa đọc tin chiến thắng. Cầu vẫn còn nguyên. Một máy bay cổ ngỗng bị bắn trúng, lao xuống sông Thương, phi công nhảy dù nổi lềnh phềnh trên nước như Sứa, dân quân bơi thuyền ra bắt.
Với cái nội dung nhiều sự kiện như thế, mà loáng một cái tôi đã chuyển tải hết vào bài hát chèo điệu “Đào liễu”. Dẫn ba “ca sĩ anh hùng”, chúng tôi lao vót đến “Đài phát thanh”, và hát liền. Cả hệ thống loa oang oang. Tiếng hát ngân nga, tiếng nhị réo rắt vang trên “sa mạc” gạch vụn còn bốc hơi bom. Các trận địa pháo ngẩn ngơ. Các anh nghe trong gió văng vẳng lời ca, hát về trận đánh của các anh. Cả nước bên các anh, trong cuộc đấu kinh hoàng này.
Đài trực chiến, không có máy thu âm. Chúng tôi hát trực tiếp. Nghỉ một lúc, đọc tin. Đọc tin xong lại hát, cứ thế kéo dài...
Tuy vậy, buổi chiều hôm ấy, có một đại úy trợ lý tác chiến của Trung đoàn pháo đến gặp.
- Hoan nghênh các đồng chí. Nhưng cả tuần tới, chúng sẽ đánh phá ác liệt hơn nữa, xác xuất thương vong sẽ rất lớn. Thủ trưởng chúng tôi ra lệnh các đồng chí phải rời thị xã ngay.
Tôi chạy ra kéo tay bà bán nước ngoài ga, nhập đoàn. Mấy đồng chí phóng viên báo chí từ Hà Nội về bám trụ trận địa cũng được lệnh rút. Họ xuýt xoa những vết xây xước trên mặt, phủi đất bụi chiến hào.
- Đã là “mặt trận” thì có lúc “tiến vào”, có lúc “rút ra” - họ lý sự. Riêng hai nhân viên của Đài truyền thanh tỉnh “kháng lệnh”, không rời.
Về đến nhà, Thúy Trinh ôm lấy chúng tôi khóc. Trinh năn nỉ xin chị Thanh đừng đuổi. Nghĩ đuổi nó bây giờ cũng gay. Giọng nó như oang vàng, cất lên tất cả im phắc. Đuổi nó thì ai sẽ hát bây giờ, Trang và Như sao bằng được nó…
...Đội văn nghệ lưu động của chúng tôi dạo ấy nhiều ngày giáp trận căng thẳng, nhưng cũng có  những ngày thanh bình. Chúng tôi đang tuổi lớn, lại mơ mộng hát hò nên không thể không “lãng mạn”. Tôi thích cái Trinh, mỗi khi nghe nó hát, là lòng tôi xao xuyến. . Nhưng ngoài đời ngày thường ,nhìn nó gầy nhom, đen nhẻm, vú lép kẹp,  tôi không khỏi ngao ngán. Tôi thích Như, người nõn nà, ngực trắng muốt hở ra sau cổ áo trễ. Nhưng khi  nó lên sâu khấu , nhìn nó người ngay như ngỗng ỉa thì tôi lại chán...
Tôi chả biết nên như thế nào. Yêu Trinh hay là yêu Như. Còn Thúy Trang thì đã dứt khoát là không. Tôi với nó “xung khắc”. Nó chẳng coi tôi là cái “đinh rỉ” gì. Tôi biết nếu mà tôi mon men sờ đến gấu áo nó, nó tát cho một cái chứ chả đùa.Vì vậy không có vấn đề gì.
Chị Thúy Thanh đã qua lứa tuổi trẻ con. Chị là đàn chị, và đầy tâm sự. Mặt chị sáng vằng vặc, người cao lớn, nở nang, trắng nõn. Đến trận địa, các thủ trưởng đón chị trân trọng .Nhờ có chị mà chúng tôi được tiếp đãi như ông hoàng.Một lần có một  tiểu đoàn trưởng “hào hoa phong nhã” quyến luyến chị. Ông tiếp chị trong lều dã chiến, bàn phủ khăn trắng, cắm hoa cúc dại. Không biết ông nói gì mà trên đôi mi cong vút của chị long lanh một giọt nước mắt chảy dài.
- Bao giờ cuộc chiến này kết thúc hở anh - Chị hỏi.
Tiểu đoàn trưởng nói  chỉ biết rằng  cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng.
Chồng chị Thanh đi chiến trường miền Nam đã sáu, bảy năm. Báo chí luôn đăng tin chiến thắng, còn chồng chị thì không một dòng tin gửi về.
Chị là vợ có chồng đang chiến đấu ngoài mặt trận. Vị thế của chị đáng kính lắm. Chị phải giữ như giữ sơn hình ảnh cao quý ấy  của mình. Nhưng chị đang giữa tuổi xuân phơi phới, sức sống căng tràn, phải kìm nén lại. Chỉ còn biết trút vào tiếng hát. Vì thế tiếng hát của chị có gì sâu lắng, buồn buồn, chứ không lảnh lót hồn nhiên như bọn Thúy Trinh....
...Một lần tôi bắt gặp một mình chị tắm bờ sông đêm trăng. Tấm thân trần trắng muốt như tráng bạc. Chị bơi một vòng rồi dạo bờ cát. Tôi nấp sau bụi cây nhìn trộm. Trong tấm thân kia, một sức xuân ngùn ngụt đang bị gìm lại. Vì thế y tá cơ quan trước đây đã rỉ tai mọi người: Chị bị bệnh Íchtêri. Íchtêri tiếng Tây, nghĩa gì, chả ai biết. Người ta kiêng, không dịch ra tiếng ta. Nhưng đại khái nó là khi những khao khát tình dục mạnh quá, không được đáp ứng, người ta sẽ ngất đi. Ngất nhưng không chết được,  và cũng chả phải chạy chữa gì. Chỉ cần một bàn tay con giai xoa nhẹ vào đôi vú là Íchtêri sẽ tỉnh. Chuyện y tá nói tưởng chuyện đùa, ai ngờ một lần tôi được “trải nghiệm” thật. Hôm ấy, một chiều tháng ba nắng rấm rứt... Nắng tháng ba như lặn vào thịt da con gái, đốt lên sáng hồng. Nắng tháng ba làm chị Thanh bị một một cơn Íchtêri nặng. Tôi sang chơi ,thấy chị đang nằm “chết ngất” trong phòng, su chiêng phanh ra, hở đôi vú thần tiên. Tôi gọi mãi, chị không thưa. Tôi hoàn toàn vì tinh thần khoa học của bác sĩ, chứ không dám vớ vẩn gì, đưa tay xoa vú chị. Bác sĩ bảo chỉ cần xoa, nhưng tôi quá đà, ghé môi hôn vú chị. Hôn có hiệu nghiệm chữa bệnh hơn thật. Chị tỉnh dậy,  cười thẹn thùng:
- Cấm em không được nói với ai chuyện này nhé.
- Nhất định rồi
- Bây giờ bàn công việc. Ngay ngày mai xuống trận địa sông Cầu.
- Nhất trí
- Chị thấy cái Trinh với cái Như ,cả hai đều có vẻ “vấn vương” với em. Kỷ luật nghiêm đấy nhé. Không được lợi dụng hoàn cảnh “vào sống ra chết” của chiến tranh mà “sống gấp”, yêu đương bừa bãi.
- Vâng, em có làm gì đâu. Nhưng giả dụ em “yêu nghiêm túc” một đứa, cái Trinh hoặc cái Như, có được không?
- Yêu nghiêm túc thì được
- Theo chị, em nên yêu cái Trinh hay cái Như - Tôi hỏi?
- Khi em còn lựa chọn “tỉnh như sáo” thế tức là em chưa yêu ai. Yêu là phải mê muội cơ. Vì vậy tốt nhất là hãy chưa yêu. Để giành thời gian phấn đấu, tu dưỡng. Trên Ty văn hóa rất chú ý đến bọn mình. Có dịp là sẽ được bồi dưỡng đào tạo. Em còn quá trẻ, lại có “khả năng”, có “nhiệt tình”, tương  lai của em rất lớn.
Tôi nghe lời chị Thanh, không yêu ai lằng nhằng nữa…
Năm 1973, cuộc ném bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt. Các trận địa pháo rút dần, nên các đội văn hóa lưu động của chúng tôi cũng giải tán, rút về Ty nhập vào các đơn vị khác.
Tôi “nhiều thành tích” nên được cho đi “bổ túc văn hóa”, và bất ngờ được đi học  Liên Xô, ngành đạo diễn. Phong trào văn nghệ quần chúng đang phát triển rầm rộ. Tỉnh cần người có chuyên môn giỏi. Ừ, có thế chứ, có lẽ tôi lắm tài thật, gì cũng biết. Sáng tác chèo, kịch cương, hoạt cảnh, là linh hồn của Đội văn hóa lưu động, cùng chị Thanh tổ chức biểu diễn xông xáo suốt mấy năm qua. Đi học Đạo diễn là đúng rồi.
Sang đến Liên Xô, cả đoàn 16 người, phần lớn từ các Ty văn hóa các tỉnh. Bộ văn hóa đã ưu tiên chỉ tiêu đi học cho các cơ sở bám sát chiến đấu…
Các ông giáo sư Liên Xô thấy nhiều người học Đạo diễn quá, phải điều chuyển bớt sang các bộ môn khác, cho cân đối quy hoạch đào tạo. Thế là oái oăm thay, tôi được “ưu tiên”học nghề “cao sang” nhất: “Lý luận nghệ thuật”
Lý luận nghệ thuật là cái gì?
Là những lý thuyết kinh điển đầy những thuật ngữ trừu tượng, bí hiểm của các ông giáo sư đầu bạc ở Viện Akađêmi (Hàn lâm) mà phần lớn người ta nghe chẳng hiểu gì.
Khổ thân tôi, anh nhà quê viết hoạt cảnh chèo, kéo nhị ,làm gì có tư duy lý luận. Tuy vậy, tôi cũng không đến nỗi ngu dốt lắm. Tôi đánh vật với nó, “học gạo”, “học vẹt”, tiếng Nga cho giỏi, ghi bài cho đúng cho đủ, mua sắm cả đống tài liệu tham khảo để “ăn cóp”. Kỳ lạ thật, sau năm năm tôi thành “Phó tiến sĩ nghệ thuật” (Sau này gọi là tiến sĩ) giống y như sự kỳ lạ mấy năm lăn lóc ở các trận địa pháo mà không chết.
Tôi về nước ,giảng dậy bộ môn này ở trường Cao đẳng Sâu khấu và Điện ảnh. Rồi được phong Phó Giáo sư. Cũng là đúng thôi. Có ai được học bài bản chính quy như tôi. Các anh khác là “du kích”, bản năng, tự phát hết. Chỉ có tôi mới biết trịnh trọng dẫn ra những lời kinh điển dòng nào trang nào, nguyên văn tiếng Nga sách bìa cứng mạ vàng... Tôi đọc từng câu cho học trò chép. Chúng nghe tai nọ sang tai kia, nên tôi cũng không phải băn khoăn quá làm gì nội dung những lời kinh điển khó nhớ. Trốn được tý nào hay tý ấy. Thế là tất cả cùng ổn. Trò yên thân, mà thầy cũng yên thân…
Phần chị Thanh,rất tiến bộ ,dần dần sau  làm đến  Giám đốc Sở văn hóa rồi Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách văn xã. Chồng chị hy sinh ngay từ những ngày đầu vào chiến trường, mà đến năm 1975 chị mới biết. Tuy vậy chị vẫn không đi bước nữa.Tất cả dồn tâm huyết vào công tác . Chị là Ủy viên Hội đồng này nọ, chấp hành phụ nữ Trung ương vv…. Sức sống thanh xuân rừng rực một thời dần suy giảm, phai tàn mà chưa một lần được thỏa nguyện. Chị như đóa hoa tuyệt đẹp , nhưng ở chót vót trên cao, tỏa sắc hương cho mây trời, còn trần gian không ai biết.
Tôi thỉnh thoảng vẫn về thăm chị. Hai chị em trân trọng, thân tình. Nhưng tôi có thể giúp gì được cho người đàn bà tài sắc về già, cô đơn...
Bất ngờ nhất là Thúy Trinh. Con nhóc “đen nhẻm, xấu mù” xưa ,giờ thành Nghệ sĩ ưu tú, nổi danh với giọng hát chèo. Nó vẫn đùa tôi: “Ngày trước cậu chê tớ gầy đen, không lấy tớ. Thằng ngu. Gầy rồi tao sẽ béo. Giờ tao chả béo quay, luôn phải nhịn ăn để giảm cân. Béo rồi, da căng là thành trắng…
Tôi hỏi thăm Thúy Như. Như thì hát hỏng loàng xoàng, sau ra khỏi văn công, làm cán bộ hành chính. Như đẹp bệ vệ như bà “quan huyện”, dắt con gái đến trường bảo tôi:
- Cậu phải xin cho con tớ vào học trường này.
- Nó có năng khiếu gì?
- Như tớ ngày xưa
- Thôi, đừng làm khổ nó. Về cho học ngành kế toán, ngân hàng, hành chính gì đó.
Như nghe tôi. Lúc chia tay, nó thắc mắc:
- Nghe nói cậu là Phó Giáo sư, Tiến sĩ nghệ thuật mà chả bao giờ thấy viết báo, lên truyền hình bình luận về các tác phẩm nghệ thuật hiện tại của ta đang trình diễn trên ti vi.
- Những tác phẩm “ăn xôi ở thì”, “mì ăn liền”, giải trí câu khách ấy, tớ bình luận làm gì. Tớ nghiên cứu lý luận kinh điển về nghệ thuật đỉnh cao của nhân loại cơ mà…
Riêng có Thúy Trang, dù đã tìm kiếm, nhưng tôi vẫn không biết giờ nó làm gì, ở đâu, nó vào miền Nam  mất biến mất tăm. Tôi tức lắm, chắc nó giờ vẫn coi tôi chả là cái đinh rỉ gì, mà tôi thì rất muốn cho nó biết giờ tôi là ai...
Nhớ “ba con nhóc”, thỉnh thoảng tôi lại lấy chiếc nhị ra kéo một bài. Tiếng nhị nghẹn ngào run rẩy, chả có gì mà tự nhiên nước mắt ứa trên mi.

 Đại Yên, 20-3-2014



 ĐỘI VĂN HÓA LƯU ĐỘNG

Truyện của
Nguyễn Phan Hách

Đội văn hóa lưu động của chúng tôi ngày ấy có năm người. Chị Thúy Thanh là trưởng đoàn. Thực ra chỉ có chị là “diễn viên chính ngạch”, hát múa có “bài bản”, còn tôi và “ba con nhóc”, Ty văn hóa mới nhặt từ các đội văn nghệ xã lên, trẻ ranh, vắt mũi chưa sạch.
Toàn tỉnh lúc ấy có bốn đội như thế, phân bố nhiều địa bàn trong tỉnh với nhiệm vụ đi về các trận địa pháo cao xạ, múa hát phục vụ bộ đội.
Trang bị của Đội nghèo nàn. “Trang âm” là hòm ắc quy có dây nối ra micro .“Dàn nhạc” có một cây nhị, một cây đàn bầu, một cây măng đô lin, tôi chơi là chính. “Ba con nhóc” cũng phải học phụ, để khi cần thì gẩy tấm tưng. Ba đứa, ngày xưa ở làng là ba “cái Hĩm”, cái “Gái”, nhưng lên đây chúng thành “Thúy” cả: Thúy Trinh, Thúy Trang, Thúy Như.
Thúy Trinh hát hay nhất. Còn Trang và Như thì loàng xoàng tàm tạm. Tuy vậy, chúng còn “có giọng”, chứ tôi thì chỉ là “thằng nhắng”, cái gì cũng biết một tý, nhưng chẳng cái gì đến nơi đến chốn. Tôi “ăn giải cạn” vì đoàn cần một thằng con giai mang vác đồ đạc.
Đại để hàng ngày công việc của chúng tôi như thế này: Buổi sáng đến một trận địa pháo nào đó… Các diễn viên thành “em gái” của các chiến sĩ. Vá áo cho chiến sĩ. Tâm sự chuyện trò. “Em gái hậu phương” ríu rít. Bộ đội quây quần. Hình bóng các cô, mái tóc dài thơm hoa bưởi, cánh tay trần trắng nõn còn nguyên phấn tuổi dậy thì, tiếng cười lanh lảnh trong veo … làm bừng sáng cả trận địa súng ống xù xì, lính tráng lộc ngộc, hố bom lở loét, mùi khói đạn khét lẹt lưu niên.
Đến mỗi trận địa, nhiệm vụ của tôi là phải nhanh chóng tìm hiểu địa danh, thành tích chiến đấu ở đây. Rồi bắt tay “sáng tác một bài hát chèo” nói về đơn vị này. Thực ra là đặt lời mới cho các làn điệu cổ. Các làn điệu Đào liễu, Tình thư hạ vị, Chức cẩm hồi văn… tôi đã thuộc lòng. Dán các lời mới vào nhanh như chớp.
Đại để sẽ như thế này… Dòng sông Cầu dạt dào xanh biếc (nếu trận địa gần sông Thương thì thay thành Sông Thương) .Núi Nham biền thấp thoáng bóng mây (Ch Nham biền, có thể thay tên khác) Súng cao nòng trận địa hôm nay. Quật ngã máy bay thù tan xác (nếu đơn vị đã hạ hai máy bay thì phải hát rõ là: hai máy bay thù tan xác).
Bài ấy sẽ hát mở màn…
Chúng tôi thường diễn trong hầm hào trận địa. Khi yên ắng, hát ngay bên mâm pháo. Đêm thì hát dưới trăng, không có đèn. Đèn lộ mục tiêu, máy bay Mỹ sẽ đến.
Phải nói “mấy con nhóc” khi hóa trang son phấn vào, chúng đẹp như tiên. Chính tôi cũng mê. Một khoảnh khắc làm tâm hồn các chiến sĩ suốt ngày đối mặt với đạn bom, được bay bổng, mơ màng. Bên cạnh tiết mục hát, tôi còn sáng tác các “hoạt cảnh” vui, tôi đóng vai hài. Nhưng giỏi nhất là “đạo diễn-tôi” lúc ấy đã biết nghĩ ra tiết mục: mời các chiến sĩ của đơn vị lên hát các bài đang thịnh hành thời ấy: Quảng Bình quê ta ơi; Tiếng đàn Ta lư; Trai anh hùng gái đảm đang; Trên quê hương quan họ vv…
Những buổi biểu diễn làm bừng lên không khí náo nức. Bộ đội, văn công, ríu rít, tình cảm, chia tay bịn rịn. Các chính trị viên phải công nhận nó có tác dụng động viên tinh thần chiến đấu, làm dịu sự căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh. Bộ đội tặng chúng tôi nhiều phong lương khô là “Cao hương mỹ vị” thời chiến, chỉ trong các đơn vị mới có…
Đoàn chúng tôi đóng trụ sở trong một xóm nhỏ, có vị trí trung bình cách các trận địa pháo trên dưới mười cây số. Năm người, năm chiếc xe đạp, khi cần phóng véo một cái là tới nơi.
Xóm trụ sở, xa đầu mối giao thông, ít bị oanh tạc. Dân tình bám ruộng sản xuất. Con gái ra đồng cấy lúa, đem theo súng trường, gặp máy bay là nằm ngửa ra, bắn lên trời. Bọn phi công không phải không khiếp vía, khi nhao xuống thấp cắt bom, bị cả một rừng súng trường khắp các cánh đồng bắn lên.
Máy bay Mỹ hồi ấy thả bom thường từng đợt, từng chiến dịch, đặt tên là “Sấm rền”. Có đợt “Sấm rền” liền cả tuần, rồi “lười”, nghỉ cả tháng, cả năm. Có đợt Sấm rền cứ vào 12 giờ trưa trở đi, gọi là “giờ cao điểm”. Người ta bảo trưa nắng phi công nhìn rõ mục tiêu. Nhưng cũng có đợt “Sấm rền” lại chỉ bắt đầu từ 8 giờ tối. Chúng có máy móc xác định mục tiêu thế nào đó, trong khi dân gian mình quan niệm là thằng phi công cứ phải thò đầu qua cửa kính nhìn xuống.
Những trận đánh đêm, cả bầu trời bừng nở pháo hoa. Bom thả xuống, đạn bắn lên vang rền. Mảnh đạn cao xạ sắc lẻm rơi lụp bụp xuống đất, trúng vỡ đầu. Vì thế hồi ấy toàn dân phải cỏ mũ rơm. Mũ rơm như mũ phớt rộng vành Mêhicô, không phải che mưa nắng mà để che đạn bom. Đấy là “thời trang” của dân tộc này. Đoàn chúng tôi, ngoài nón ba tầm trang phục biểu diễn, còn có “thời trang mũ rơm” lúc nào cũng kè kè bên người…
Càng trong các đợt “Sấm rền”, chúng tôi càng phải hoạt động hết công xuất. Nghe tin đánh ở đâu, là phải ngay lập tức có mặt ở đó. Trận địa tan hoang, hố bom vẫn nghi ngút khói, nòng pháo trúng bom cong queo, xác chiến sĩ hy sinh máu chảy chưa khô, người bị thương quằn quại. Đội văn công chúng tôi thành y ta chiến trường, xúm vào băng bó, khênh cáng. Chả cứ chúng tôi, các cô dân quân, mẹ chiến sĩ các làng xung quanh cùng có mặt kịp thời mang theo hoa trái, tặng bộ đội. Thường thì chỉ sau vài giờ, trận địa đã được “dọn dẹp sạch sẽ”. Pháo lại vào bệ ngay ngắn. Pháo thủ bổ xung phiên chế đ cơ số, kịp thời thay thế người đã chết. Khẩu đội trưởng đã vào vị trí tay lăm lăm cầm cờ lệnh đỏ chói, sẵn sàng đón trận đánh mới. Phóng viên báo chí “hớt hơ hớt hải” đạp xe đến, ghi ghi chép chép, chụp ảnh quay phim. Và chính lúc ấy văn công chúng tôi trình diễn, phấn son rực rỡ, yếm đào xà tích, áo mớ bẩy mớ ba, nón ba tầm khoác vai, đứng hát véo von, tay chân múa lượn, nhưng nhìn kỹ có khi tay còn vết máu chiến sĩ bị thương…
Ban đầu chỉ có chị Thúy Thanh và tôi là gan dạ trước cảnh bom đạn, người chết, còn ba con nhóc sợ run. Chúng luýnh qua luýnh quýnh băng bó cho bộ đội, mặt cắt không còn hột máu. Hát trước ống kính phóng viên mà chúng đứt cả hơi. Dần dà, mãi chúng mới đỡ sợ. Biểu diễn nơi trận địa rồi cũng dần thành “nghề” của chúng. Chúng không muốn về quê đi cấy, chân lấm tay bùn nữa, mà chỉ muốn ở đây làm “văn công”…
Thị xã Sông Thương ngày ấy có cầu lớn, đường sắt quốc gia chạy qua nên là “túi đựng bom”. Phố xá gần như đã bị san bằng, chỉ còn những đống gạch vụn. Quảng trường chi chít hố bom nước xanh lơ, ễnh ương bơi lội.
Nhiều đêm chúng tôi phải ở lại thị xã để phục vụ, vì ở đây dày đặc trận địa với các khẩu pháo cao xạ nòng chĩa thẳng hướng chính diện đón lõng máy bay lao xuống cắt bom...
Thị xã phồn hoa xưa, giờ chỉ thấy tiếng hót của chim rừng từ đâu bay lạc tới. Nhà ga lù mù ánh đèn dầu hỏa, những con tầu hồng hộc vội vã chạy qua. Sân ga vắng lặng, duy nhất có một bà bán nước chè xanh từ hồi chiến tranh phá hoại nổ ra đến giờ. Nhà ga là tiêu điểm số 1 bắn phá, ai phải qua đây, hớt hải chạy cho nhanh. Thế mà bà cứ ở đây năm này tháng khác. Chúng tôi cùng cảnh “dân thị xã” với bà, nên thân tình, kết nạp bà làm hàng xóm, thỉnh thoảng “ngồi vểnh râu” uống hớp nước chè xanh với kẹo lạc, trên “sân ga ấm cúng” sợ mất vía của bà.
Một lần, tin trên cho biết, ngày mai sẽ có đợt “Sấm rền” ác liệt nhất từ xưa tới nay, tại đây, chúng quyết  dứt điểm phá xập cầu, bom đạn sẽ khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi.
Đêm thị xã căng ra như dây đàn. Còn ai sót lại thì trốn hết.
Tôi gặp mấy ông xe thồ. Các ông này “anh hùng” chẳng kém ai, thường phục sẵn ở đây, bom dội, nhà đổ, là kịp thời lấy gạch vụn đi. Không nhanh, thằng “anh hùng” khác, nó tranh mất. Nhưng lần này mấy ông xe thồ cũng lục tục thu dọn đồ nghề bảo tôi: “Chuồn thôi chú mày ạ”.
Chị Thanh bàn bàn với tôi:
- Hay ta cũng tạm sơ tán qua đợt “Sấm rền” này.
Tôi bây giờ là “Chính ủy”, để nghĩ đã. Một mình tôi bước lơ vơ trên đường phố. Ngó vào căn nhà lở loét (xưa là trụ sở Đài phát thanh tỉnh) thấy có ánh đèn. Một anh phóng viên và một nhân viên kỹ thuật vồ lấy tôi như người giữa hoang đảo gặp nhau.
- Chúng tôi được “biệt phái” về đây trực chiến - Hai anh nói - Viết tin kịp thời tại chỗ, phát thanh tức thì ngay trong thời gian đang diễn ra trận đánh, để nâng cao tinh thần bộ đội, toàn dân sát cánh trực chiến bên các anh. Máy nổ và hệ thống loa tốt lắm, cả thị xã nghe được.
- Và tôi sẽ sáng tác ngay một bài hát chèo cập nhật tin chiến thắng, cho diễn viên hát trực tiếp trước máy- Tôi bổ xung kế hoạch.
- Hay quá . Tuyệt - Các anh reo. Tôi về thông báo công việc cho chị Thanh. Chị đồng ý, nhưng “ca sĩ” Thúy Trinh run cầm cập.
- Ở lại khác gì chìa tay ra hứng bom. Mọi lần là bình thường ,nhưng lần này ác liệt đặc biệt. Trên đã nói thế rồi. Ai bắt mình phải dán lưng xuống đất chịu bom.
- Nội thị xã này hiện còn vài trăm bộ đội dân quân, ngày mai, mặt đối mặt với địch. Ngày mai, nếu tiếng hát của chúng ta vang trên nền đạn bom, có tác dụng biết chừng nào.
Thúy Trinh khóc, lặng lẽ ra lấy xe đạp:
- Chị Thanh cho em về, em sợ lắm.
- Sao các lần trước không sợ
- Lần trước khác. Lần này khác. Trải qua vài lần, em đã ngấm đòn rồi. Cái chết kề bên.
Trinh lao xe ra đường, chạy trốn khỏi thị xã.
Trang và Như nhìn theo ngẩn ngơ.
Tôi quát:
- Cấm không cho cô nào được rời vị trí chiến đấu.
Chị Thanh cứng cỏi:
- T giờ phút này Trinh đã bị đuổi khỏi đoàn
Trang và Như nói:
- Có nó là hát hay nhất. Đuổi đi thì còn ai.
Chị Thanh dịu dàng:
- Hai em Trang và Như, ngày mai cứ mở miệng trên loa, dù thế nào chăng nữa cũng cứ thành tiếng hát tuyệt vời, khắc trong tâm khảm mọi người.
Quả nhiên trưa hôm sau, chiến dịch “Sấm rền” này của chúng khủng khiếp thật .Hàng đàn máy bay F105 hình cổ ngỗng dài ngoẵng, và F4 biệt hiệu Con Ma, hình chiếc vỉ ruồi, quần đảo, thả bom. Tuy nhiên bị pháo bắn dữ quá, cắt bom từ trên cao, nên vẫn không trúng cầu. Thị xã “vinh hạnh” hứng hết.
Chúng tôi ngồi dưới hầm đất rung xóc ốc.
Tôi bảo Trang và Như:
- Chúng mình được ẩn dưới hầm kín. Còn các chiến sĩ cao xạ và dân quân “lộ thiên” mặt đối mặt, nhìn thấy bom rơi như vãi đ trên đầu. Vậy ta sợ gì?
Một tiếng sau ,bom ngớt dần. Bọn phi công Mỹ chắc cũng nhát như cái Trinh nên bỏ chạy. Lập tức loa truyền thanh tỉnh vang dội vỡ òa đọc tin chiến thắng. Cầu vẫn còn nguyên. Một máy bay cổ ngỗng bị bắn trúng, lao xuống sông Thương, phi công nhảy dù nổi lềnh phềnh trên nước như Sứa, dân quân bơi thuyền ra bắt.
Với cái nội dung nhiều sự kiện như thế, mà loáng một cái tôi đã chuyển tải hết vào bài hát chèo điệu “Đào liễu”. Dẫn ba “ca sĩ anh hùng”, chúng tôi lao vót đến “Đài phát thanh”, và hát liền. Cả hệ thống loa oang oang. Tiếng hát ngân nga, tiếng nhị réo rắt vang trên “sa mạc” gạch vụn còn bốc hơi bom. Các trận địa pháo ngẩn ngơ. Các anh nghe trong gió văng vẳng lời ca, hát về trận đánh của các anh. Cả nước bên các anh, trong cuộc đấu kinh hoàng này.
Đài trực chiến, không có máy thu âm. Chúng tôi hát trực tiếp. Nghỉ một lúc, đọc tin. Đọc tin xong lại hát, cứ thế kéo dài...
Tuy vậy, buổi chiều hôm ấy, có một đại úy trợ lý tác chiến của Trung đoàn pháo đến gặp.
- Hoan nghênh các đồng chí. Nhưng cả tuần tới, chúng sẽ đánh phá ác liệt hơn nữa, xác xuất thương vong sẽ rất lớn. Thủ trưởng chúng tôi ra lệnh các đồng chí phải rời thị xã ngay.
Tôi chạy ra kéo tay bà bán nước ngoài ga, nhập đoàn. Mấy đồng chí phóng viên báo chí từ Hà Nội về bám trụ trận địa cũng được lệnh rút. Họ xuýt xoa những vết xây xước trên mặt, phủi đất bụi chiến hào.
- Đã là “mặt trận” thì có lúc “tiến vào”, có lúc “rút ra” - họ lý sự. Riêng hai nhân viên của Đài truyền thanh tỉnh “kháng lệnh”, không rời.
Về đến nhà, Thúy Trinh ôm lấy chúng tôi khóc. Trinh năn nỉ xin chị Thanh đừng đuổi. Nghĩ đuổi nó bây giờ cũng gay. Giọng nó như oang vàng, cất lên tất cả im phắc. Đuổi nó thì ai sẽ hát bây giờ, Trang và Như sao bằng được nó…
...Đội văn nghệ lưu động của chúng tôi dạo ấy nhiều ngày giáp trận căng thẳng, nhưng cũng có  những ngày thanh bình. Chúng tôi đang tuổi lớn, lại mơ mộng hát hò nên không thể không “lãng mạn”. Tôi thích cái Trinh, mỗi khi nghe nó hát, là lòng tôi xao xuyến. . Nhưng ngoài đời ngày thường ,nhìn nó gầy nhom, đen nhẻm, vú lép kẹp,  tôi không khỏi ngao ngán. Tôi thích Như, người nõn nà, ngực trắng muốt hở ra sau cổ áo trễ. Nhưng khi  nó lên sâu khấu , nhìn nó người ngay như ngỗng ỉa thì tôi lại chán...
Tôi chả biết nên như thế nào. Yêu Trinh hay là yêu Như. Còn Thúy Trang thì đã dứt khoát là không. Tôi với nó “xung khắc”. Nó chẳng coi tôi là cái “đinh rỉ” gì. Tôi biết nếu mà tôi mon men sờ đến gấu áo nó, nó tát cho một cái chứ chả đùa.Vì vậy không có vấn đề gì.
Chị Thúy Thanh đã qua lứa tuổi trẻ con. Chị là đàn chị, và đầy tâm sự. Mặt chị sáng vằng vặc, người cao lớn, nở nang, trắng nõn. Đến trận địa, các thủ trưởng đón chị trân trọng .Nhờ có chị mà chúng tôi được tiếp đãi như ông hoàng.Một lần có một  tiểu đoàn trưởng “hào hoa phong nhã” quyến luyến chị. Ông tiếp chị trong lều dã chiến, bàn phủ khăn trắng, cắm hoa cúc dại. Không biết ông nói gì mà trên đôi mi cong vút của chị long lanh một giọt nước mắt chảy dài.
- Bao giờ cuộc chiến này kết thúc hở anh - Chị hỏi.
Tiểu đoàn trưởng nói  chỉ biết rằng  cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng.
Chồng chị Thanh đi chiến trường miền Nam đã sáu, bảy năm. Báo chí luôn đăng tin chiến thắng, còn chồng chị thì không một dòng tin gửi về.
Chị là vợ có chồng đang chiến đấu ngoài mặt trận. Vị thế của chị đáng kính lắm. Chị phải giữ như giữ sơn hình ảnh cao quý ấy  của mình. Nhưng chị đang giữa tuổi xuân phơi phới, sức sống căng tràn, phải kìm nén lại. Chỉ còn biết trút vào tiếng hát. Vì thế tiếng hát của chị có gì sâu lắng, buồn buồn, chứ không lảnh lót hồn nhiên như bọn Thúy Trinh....
...Một lần tôi bắt gặp một mình chị tắm bờ sông đêm trăng. Tấm thân trần trắng muốt như tráng bạc. Chị bơi một vòng rồi dạo bờ cát. Tôi nấp sau bụi cây nhìn trộm. Trong tấm thân kia, một sức xuân ngùn ngụt đang bị gìm lại. Vì thế y tá cơ quan trước đây đã rỉ tai mọi người: Chị bị bệnh Íchtêri. Íchtêri tiếng Tây, nghĩa gì, chả ai biết. Người ta kiêng, không dịch ra tiếng ta. Nhưng đại khái nó là khi những khao khát tình dục mạnh quá, không được đáp ứng, người ta sẽ ngất đi. Ngất nhưng không chết được,  và cũng chả phải chạy chữa gì. Chỉ cần một bàn tay con giai xoa nhẹ vào đôi vú là Íchtêri sẽ tỉnh. Chuyện y tá nói tưởng chuyện đùa, ai ngờ một lần tôi được “trải nghiệm” thật. Hôm ấy, một chiều tháng ba nắng rấm rứt... Nắng tháng ba như lặn vào thịt da con gái, đốt lên sáng hồng. Nắng tháng ba làm chị Thanh bị một một cơn Íchtêri nặng. Tôi sang chơi ,thấy chị đang nằm “chết ngất” trong phòng, su chiêng phanh ra, hở đôi vú thần tiên. Tôi gọi mãi, chị không thưa. Tôi hoàn toàn vì tinh thần khoa học của bác sĩ, chứ không dám vớ vẩn gì, đưa tay xoa vú chị. Bác sĩ bảo chỉ cần xoa, nhưng tôi quá đà, ghé môi hôn vú chị. Hôn có hiệu nghiệm chữa bệnh hơn thật. Chị tỉnh dậy,  cười thẹn thùng:
- Cấm em không được nói với ai chuyện này nhé.
- Nhất định rồi
- Bây giờ bàn công việc. Ngay ngày mai xuống trận địa sông Cầu.
- Nhất trí
- Chị thấy cái Trinh với cái Như ,cả hai đều có vẻ “vấn vương” với em. Kỷ luật nghiêm đấy nhé. Không được lợi dụng hoàn cảnh “vào sống ra chết” của chiến tranh mà “sống gấp”, yêu đương bừa bãi.
- Vâng, em có làm gì đâu. Nhưng giả dụ em “yêu nghiêm túc” một đứa, cái Trinh hoặc cái Như, có được không?
- Yêu nghiêm túc thì được
- Theo chị, em nên yêu cái Trinh hay cái Như - Tôi hỏi?
- Khi em còn lựa chọn “tỉnh như sáo” thế tức là em chưa yêu ai. Yêu là phải mê muội cơ. Vì vậy tốt nhất là hãy chưa yêu. Để giành thời gian phấn đấu, tu dưỡng. Trên Ty văn hóa rất chú ý đến bọn mình. Có dịp là sẽ được bồi dưỡng đào tạo. Em còn quá trẻ, lại có “khả năng”, có “nhiệt tình”, tương  lai của em rất lớn.
Tôi nghe lời chị Thanh, không yêu ai lằng nhằng nữa…
Năm 1973, cuộc ném bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt. Các trận địa pháo rút dần, nên các đội văn hóa lưu động của chúng tôi cũng giải tán, rút về Ty nhập vào các đơn vị khác.
Tôi “nhiều thành tích” nên được cho đi “bổ túc văn hóa”, và bất ngờ được đi học  Liên Xô, ngành đạo diễn. Phong trào văn nghệ quần chúng đang phát triển rầm rộ. Tỉnh cần người có chuyên môn giỏi. Ừ, có thế chứ, có lẽ tôi lắm tài thật, gì cũng biết. Sáng tác chèo, kịch cương, hoạt cảnh, là linh hồn của Đội văn hóa lưu động, cùng chị Thanh tổ chức biểu diễn xông xáo suốt mấy năm qua. Đi học Đạo diễn là đúng rồi.
Sang đến Liên Xô, cả đoàn 16 người, phần lớn từ các Ty văn hóa các tỉnh. Bộ văn hóa đã ưu tiên chỉ tiêu đi học cho các cơ sở bám sát chiến đấu…
Các ông giáo sư Liên Xô thấy nhiều người học Đạo diễn quá, phải điều chuyển bớt sang các bộ môn khác, cho cân đối quy hoạch đào tạo. Thế là oái oăm thay, tôi được “ưu tiên”học nghề “cao sang” nhất: “Lý luận nghệ thuật”
Lý luận nghệ thuật là cái gì?
Là những lý thuyết kinh điển đầy những thuật ngữ trừu tượng, bí hiểm của các ông giáo sư đầu bạc ở Viện Akađêmi (Hàn lâm) mà phần lớn người ta nghe chẳng hiểu gì.
Khổ thân tôi, anh nhà quê viết hoạt cảnh chèo, kéo nhị ,làm gì có tư duy lý luận. Tuy vậy, tôi cũng không đến nỗi ngu dốt lắm. Tôi đánh vật với nó, “học gạo”, “học vẹt”, tiếng Nga cho giỏi, ghi bài cho đúng cho đủ, mua sắm cả đống tài liệu tham khảo để “ăn cóp”. Kỳ lạ thật, sau năm năm tôi thành “Phó tiến sĩ nghệ thuật” (Sau này gọi là tiến sĩ) giống y như sự kỳ lạ mấy năm lăn lóc ở các trận địa pháo mà không chết.
Tôi về nước ,giảng dậy bộ môn này ở trường Cao đẳng Sâu khấu và Điện ảnh. Rồi được phong Phó Giáo sư. Cũng là đúng thôi. Có ai được học bài bản chính quy như tôi. Các anh khác là “du kích”, bản năng, tự phát hết. Chỉ có tôi mới biết trịnh trọng dẫn ra những lời kinh điển dòng nào trang nào, nguyên văn tiếng Nga sách bìa cứng mạ vàng... Tôi đọc từng câu cho học trò chép. Chúng nghe tai nọ sang tai kia, nên tôi cũng không phải băn khoăn quá làm gì nội dung những lời kinh điển khó nhớ. Trốn được tý nào hay tý ấy. Thế là tất cả cùng ổn. Trò yên thân, mà thầy cũng yên thân…
Phần chị Thanh,rất tiến bộ ,dần dần sau  làm đến  Giám đốc Sở văn hóa rồi Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách văn xã. Chồng chị hy sinh ngay từ những ngày đầu vào chiến trường, mà đến năm 1975 chị mới biết. Tuy vậy chị vẫn không đi bước nữa.Tất cả dồn tâm huyết vào công tác . Chị là Ủy viên Hội đồng này nọ, chấp hành phụ nữ Trung ương vv…. Sức sống thanh xuân rừng rực một thời dần suy giảm, phai tàn mà chưa một lần được thỏa nguyện. Chị như đóa hoa tuyệt đẹp , nhưng ở chót vót trên cao, tỏa sắc hương cho mây trời, còn trần gian không ai biết.
Tôi thỉnh thoảng vẫn về thăm chị. Hai chị em trân trọng, thân tình. Nhưng tôi có thể giúp gì được cho người đàn bà tài sắc về già, cô đơn...
Bất ngờ nhất là Thúy Trinh. Con nhóc “đen nhẻm, xấu mù” xưa ,giờ thành Nghệ sĩ ưu tú, nổi danh với giọng hát chèo. Nó vẫn đùa tôi: “Ngày trước cậu chê tớ gầy đen, không lấy tớ. Thằng ngu. Gầy rồi tao sẽ béo. Giờ tao chả béo quay, luôn phải nhịn ăn để giảm cân. Béo rồi, da căng là thành trắng…
Tôi hỏi thăm Thúy Như. Như thì hát hỏng loàng xoàng, sau ra khỏi văn công, làm cán bộ hành chính. Như đẹp bệ vệ như bà “quan huyện”, dắt con gái đến trường bảo tôi:
- Cậu phải xin cho con tớ vào học trường này.
- Nó có năng khiếu gì?
- Như tớ ngày xưa
- Thôi, đừng làm khổ nó. Về cho học ngành kế toán, ngân hàng, hành chính gì đó.
Như nghe tôi. Lúc chia tay, nó thắc mắc:
- Nghe nói cậu là Phó Giáo sư, Tiến sĩ nghệ thuật mà chả bao giờ thấy viết báo, lên truyền hình bình luận về các tác phẩm nghệ thuật hiện tại của ta đang trình diễn trên ti vi.
- Những tác phẩm “ăn xôi ở thì”, “mì ăn liền”, giải trí câu khách ấy, tớ bình luận làm gì. Tớ nghiên cứu lý luận kinh điển về nghệ thuật đỉnh cao của nhân loại cơ mà…
Riêng có Thúy Trang, dù đã tìm kiếm, nhưng tôi vẫn không biết giờ nó làm gì, ở đâu, nó vào miền Nam  mất biến mất tăm. Tôi tức lắm, chắc nó giờ vẫn coi tôi chả là cái đinh rỉ gì, mà tôi thì rất muốn cho nó biết giờ tôi là ai...
Nhớ “ba con nhóc”, thỉnh thoảng tôi lại lấy chiếc nhị ra kéo một bài. Tiếng nhị nghẹn ngào run rẩy, chả có gì mà tự nhiên nước mắt ứa trên mi.

 Đại Yên, 20-3-2014



 ĐỘI VĂN HÓA LƯU ĐỘNG

Truyện của
Nguyễn Phan Hách

Đội văn hóa lưu động của chúng tôi ngày ấy có năm người. Chị Thúy Thanh là trưởng đoàn. Thực ra chỉ có chị là “diễn viên chính ngạch”, hát múa có “bài bản”, còn tôi và “ba con nhóc”, Ty văn hóa mới nhặt từ các đội văn nghệ xã lên, trẻ ranh, vắt mũi chưa sạch.
Toàn tỉnh lúc ấy có bốn đội như thế, phân bố nhiều địa bàn trong tỉnh với nhiệm vụ đi về các trận địa pháo cao xạ, múa hát phục vụ bộ đội.
Trang bị của Đội nghèo nàn. “Trang âm” là hòm ắc quy có dây nối ra micro .“Dàn nhạc” có một cây nhị, một cây đàn bầu, một cây măng đô lin, tôi chơi là chính. “Ba con nhóc” cũng phải học phụ, để khi cần thì gẩy tấm tưng. Ba đứa, ngày xưa ở làng là ba “cái Hĩm”, cái “Gái”, nhưng lên đây chúng thành “Thúy” cả: Thúy Trinh, Thúy Trang, Thúy Như.
Thúy Trinh hát hay nhất. Còn Trang và Như thì loàng xoàng tàm tạm. Tuy vậy, chúng còn “có giọng”, chứ tôi thì chỉ là “thằng nhắng”, cái gì cũng biết một tý, nhưng chẳng cái gì đến nơi đến chốn. Tôi “ăn giải cạn” vì đoàn cần một thằng con giai mang vác đồ đạc.
Đại để hàng ngày công việc của chúng tôi như thế này: Buổi sáng đến một trận địa pháo nào đó… Các diễn viên thành “em gái” của các chiến sĩ. Vá áo cho chiến sĩ. Tâm sự chuyện trò. “Em gái hậu phương” ríu rít. Bộ đội quây quần. Hình bóng các cô, mái tóc dài thơm hoa bưởi, cánh tay trần trắng nõn còn nguyên phấn tuổi dậy thì, tiếng cười lanh lảnh trong veo … làm bừng sáng cả trận địa súng ống xù xì, lính tráng lộc ngộc, hố bom lở loét, mùi khói đạn khét lẹt lưu niên.
Đến mỗi trận địa, nhiệm vụ của tôi là phải nhanh chóng tìm hiểu địa danh, thành tích chiến đấu ở đây. Rồi bắt tay “sáng tác một bài hát chèo” nói về đơn vị này. Thực ra là đặt lời mới cho các làn điệu cổ. Các làn điệu Đào liễu, Tình thư hạ vị, Chức cẩm hồi văn… tôi đã thuộc lòng. Dán các lời mới vào nhanh như chớp.
Đại để sẽ như thế này… Dòng sông Cầu dạt dào xanh biếc (nếu trận địa gần sông Thương thì thay thành Sông Thương) .Núi Nham biền thấp thoáng bóng mây (Ch Nham biền, có thể thay tên khác) Súng cao nòng trận địa hôm nay. Quật ngã máy bay thù tan xác (nếu đơn vị đã hạ hai máy bay thì phải hát rõ là: hai máy bay thù tan xác).
Bài ấy sẽ hát mở màn…
Chúng tôi thường diễn trong hầm hào trận địa. Khi yên ắng, hát ngay bên mâm pháo. Đêm thì hát dưới trăng, không có đèn. Đèn lộ mục tiêu, máy bay Mỹ sẽ đến.
Phải nói “mấy con nhóc” khi hóa trang son phấn vào, chúng đẹp như tiên. Chính tôi cũng mê. Một khoảnh khắc làm tâm hồn các chiến sĩ suốt ngày đối mặt với đạn bom, được bay bổng, mơ màng. Bên cạnh tiết mục hát, tôi còn sáng tác các “hoạt cảnh” vui, tôi đóng vai hài. Nhưng giỏi nhất là “đạo diễn-tôi” lúc ấy đã biết nghĩ ra tiết mục: mời các chiến sĩ của đơn vị lên hát các bài đang thịnh hành thời ấy: Quảng Bình quê ta ơi; Tiếng đàn Ta lư; Trai anh hùng gái đảm đang; Trên quê hương quan họ vv…
Những buổi biểu diễn làm bừng lên không khí náo nức. Bộ đội, văn công, ríu rít, tình cảm, chia tay bịn rịn. Các chính trị viên phải công nhận nó có tác dụng động viên tinh thần chiến đấu, làm dịu sự căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh. Bộ đội tặng chúng tôi nhiều phong lương khô là “Cao hương mỹ vị” thời chiến, chỉ trong các đơn vị mới có…
Đoàn chúng tôi đóng trụ sở trong một xóm nhỏ, có vị trí trung bình cách các trận địa pháo trên dưới mười cây số. Năm người, năm chiếc xe đạp, khi cần phóng véo một cái là tới nơi.
Xóm trụ sở, xa đầu mối giao thông, ít bị oanh tạc. Dân tình bám ruộng sản xuất. Con gái ra đồng cấy lúa, đem theo súng trường, gặp máy bay là nằm ngửa ra, bắn lên trời. Bọn phi công không phải không khiếp vía, khi nhao xuống thấp cắt bom, bị cả một rừng súng trường khắp các cánh đồng bắn lên.
Máy bay Mỹ hồi ấy thả bom thường từng đợt, từng chiến dịch, đặt tên là “Sấm rền”. Có đợt “Sấm rền” liền cả tuần, rồi “lười”, nghỉ cả tháng, cả năm. Có đợt Sấm rền cứ vào 12 giờ trưa trở đi, gọi là “giờ cao điểm”. Người ta bảo trưa nắng phi công nhìn rõ mục tiêu. Nhưng cũng có đợt “Sấm rền” lại chỉ bắt đầu từ 8 giờ tối. Chúng có máy móc xác định mục tiêu thế nào đó, trong khi dân gian mình quan niệm là thằng phi công cứ phải thò đầu qua cửa kính nhìn xuống.
Những trận đánh đêm, cả bầu trời bừng nở pháo hoa. Bom thả xuống, đạn bắn lên vang rền. Mảnh đạn cao xạ sắc lẻm rơi lụp bụp xuống đất, trúng vỡ đầu. Vì thế hồi ấy toàn dân phải cỏ mũ rơm. Mũ rơm như mũ phớt rộng vành Mêhicô, không phải che mưa nắng mà để che đạn bom. Đấy là “thời trang” của dân tộc này. Đoàn chúng tôi, ngoài nón ba tầm trang phục biểu diễn, còn có “thời trang mũ rơm” lúc nào cũng kè kè bên người…
Càng trong các đợt “Sấm rền”, chúng tôi càng phải hoạt động hết công xuất. Nghe tin đánh ở đâu, là phải ngay lập tức có mặt ở đó. Trận địa tan hoang, hố bom vẫn nghi ngút khói, nòng pháo trúng bom cong queo, xác chiến sĩ hy sinh máu chảy chưa khô, người bị thương quằn quại. Đội văn công chúng tôi thành y ta chiến trường, xúm vào băng bó, khênh cáng. Chả cứ chúng tôi, các cô dân quân, mẹ chiến sĩ các làng xung quanh cùng có mặt kịp thời mang theo hoa trái, tặng bộ đội. Thường thì chỉ sau vài giờ, trận địa đã được “dọn dẹp sạch sẽ”. Pháo lại vào bệ ngay ngắn. Pháo thủ bổ xung phiên chế đ cơ số, kịp thời thay thế người đã chết. Khẩu đội trưởng đã vào vị trí tay lăm lăm cầm cờ lệnh đỏ chói, sẵn sàng đón trận đánh mới. Phóng viên báo chí “hớt hơ hớt hải” đạp xe đến, ghi ghi chép chép, chụp ảnh quay phim. Và chính lúc ấy văn công chúng tôi trình diễn, phấn son rực rỡ, yếm đào xà tích, áo mớ bẩy mớ ba, nón ba tầm khoác vai, đứng hát véo von, tay chân múa lượn, nhưng nhìn kỹ có khi tay còn vết máu chiến sĩ bị thương…
Ban đầu chỉ có chị Thúy Thanh và tôi là gan dạ trước cảnh bom đạn, người chết, còn ba con nhóc sợ run. Chúng luýnh qua luýnh quýnh băng bó cho bộ đội, mặt cắt không còn hột máu. Hát trước ống kính phóng viên mà chúng đứt cả hơi. Dần dà, mãi chúng mới đỡ sợ. Biểu diễn nơi trận địa rồi cũng dần thành “nghề” của chúng. Chúng không muốn về quê đi cấy, chân lấm tay bùn nữa, mà chỉ muốn ở đây làm “văn công”…
Thị xã Sông Thương ngày ấy có cầu lớn, đường sắt quốc gia chạy qua nên là “túi đựng bom”. Phố xá gần như đã bị san bằng, chỉ còn những đống gạch vụn. Quảng trường chi chít hố bom nước xanh lơ, ễnh ương bơi lội.
Nhiều đêm chúng tôi phải ở lại thị xã để phục vụ, vì ở đây dày đặc trận địa với các khẩu pháo cao xạ nòng chĩa thẳng hướng chính diện đón lõng máy bay lao xuống cắt bom...
Thị xã phồn hoa xưa, giờ chỉ thấy tiếng hót của chim rừng từ đâu bay lạc tới. Nhà ga lù mù ánh đèn dầu hỏa, những con tầu hồng hộc vội vã chạy qua. Sân ga vắng lặng, duy nhất có một bà bán nước chè xanh từ hồi chiến tranh phá hoại nổ ra đến giờ. Nhà ga là tiêu điểm số 1 bắn phá, ai phải qua đây, hớt hải chạy cho nhanh. Thế mà bà cứ ở đây năm này tháng khác. Chúng tôi cùng cảnh “dân thị xã” với bà, nên thân tình, kết nạp bà làm hàng xóm, thỉnh thoảng “ngồi vểnh râu” uống hớp nước chè xanh với kẹo lạc, trên “sân ga ấm cúng” sợ mất vía của bà.
Một lần, tin trên cho biết, ngày mai sẽ có đợt “Sấm rền” ác liệt nhất từ xưa tới nay, tại đây, chúng quyết  dứt điểm phá xập cầu, bom đạn sẽ khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi.
Đêm thị xã căng ra như dây đàn. Còn ai sót lại thì trốn hết.
Tôi gặp mấy ông xe thồ. Các ông này “anh hùng” chẳng kém ai, thường phục sẵn ở đây, bom dội, nhà đổ, là kịp thời lấy gạch vụn đi. Không nhanh, thằng “anh hùng” khác, nó tranh mất. Nhưng lần này mấy ông xe thồ cũng lục tục thu dọn đồ nghề bảo tôi: “Chuồn thôi chú mày ạ”.
Chị Thanh bàn bàn với tôi:
- Hay ta cũng tạm sơ tán qua đợt “Sấm rền” này.
Tôi bây giờ là “Chính ủy”, để nghĩ đã. Một mình tôi bước lơ vơ trên đường phố. Ngó vào căn nhà lở loét (xưa là trụ sở Đài phát thanh tỉnh) thấy có ánh đèn. Một anh phóng viên và một nhân viên kỹ thuật vồ lấy tôi như người giữa hoang đảo gặp nhau.
- Chúng tôi được “biệt phái” về đây trực chiến - Hai anh nói - Viết tin kịp thời tại chỗ, phát thanh tức thì ngay trong thời gian đang diễn ra trận đánh, để nâng cao tinh thần bộ đội, toàn dân sát cánh trực chiến bên các anh. Máy nổ và hệ thống loa tốt lắm, cả thị xã nghe được.
- Và tôi sẽ sáng tác ngay một bài hát chèo cập nhật tin chiến thắng, cho diễn viên hát trực tiếp trước máy- Tôi bổ xung kế hoạch.
- Hay quá . Tuyệt - Các anh reo. Tôi về thông báo công việc cho chị Thanh. Chị đồng ý, nhưng “ca sĩ” Thúy Trinh run cầm cập.
- Ở lại khác gì chìa tay ra hứng bom. Mọi lần là bình thường ,nhưng lần này ác liệt đặc biệt. Trên đã nói thế rồi. Ai bắt mình phải dán lưng xuống đất chịu bom.
- Nội thị xã này hiện còn vài trăm bộ đội dân quân, ngày mai, mặt đối mặt với địch. Ngày mai, nếu tiếng hát của chúng ta vang trên nền đạn bom, có tác dụng biết chừng nào.
Thúy Trinh khóc, lặng lẽ ra lấy xe đạp:
- Chị Thanh cho em về, em sợ lắm.
- Sao các lần trước không sợ
- Lần trước khác. Lần này khác. Trải qua vài lần, em đã ngấm đòn rồi. Cái chết kề bên.
Trinh lao xe ra đường, chạy trốn khỏi thị xã.
Trang và Như nhìn theo ngẩn ngơ.
Tôi quát:
- Cấm không cho cô nào được rời vị trí chiến đấu.
Chị Thanh cứng cỏi:
- T giờ phút này Trinh đã bị đuổi khỏi đoàn
Trang và Như nói:
- Có nó là hát hay nhất. Đuổi đi thì còn ai.
Chị Thanh dịu dàng:
- Hai em Trang và Như, ngày mai cứ mở miệng trên loa, dù thế nào chăng nữa cũng cứ thành tiếng hát tuyệt vời, khắc trong tâm khảm mọi người.
Quả nhiên trưa hôm sau, chiến dịch “Sấm rền” này của chúng khủng khiếp thật .Hàng đàn máy bay F105 hình cổ ngỗng dài ngoẵng, và F4 biệt hiệu Con Ma, hình chiếc vỉ ruồi, quần đảo, thả bom. Tuy nhiên bị pháo bắn dữ quá, cắt bom từ trên cao, nên vẫn không trúng cầu. Thị xã “vinh hạnh” hứng hết.
Chúng tôi ngồi dưới hầm đất rung xóc ốc.
Tôi bảo Trang và Như:
- Chúng mình được ẩn dưới hầm kín. Còn các chiến sĩ cao xạ và dân quân “lộ thiên” mặt đối mặt, nhìn thấy bom rơi như vãi đ trên đầu. Vậy ta sợ gì?
Một tiếng sau ,bom ngớt dần. Bọn phi công Mỹ chắc cũng nhát như cái Trinh nên bỏ chạy. Lập tức loa truyền thanh tỉnh vang dội vỡ òa đọc tin chiến thắng. Cầu vẫn còn nguyên. Một máy bay cổ ngỗng bị bắn trúng, lao xuống sông Thương, phi công nhảy dù nổi lềnh phềnh trên nước như Sứa, dân quân bơi thuyền ra bắt.
Với cái nội dung nhiều sự kiện như thế, mà loáng một cái tôi đã chuyển tải hết vào bài hát chèo điệu “Đào liễu”. Dẫn ba “ca sĩ anh hùng”, chúng tôi lao vót đến “Đài phát thanh”, và hát liền. Cả hệ thống loa oang oang. Tiếng hát ngân nga, tiếng nhị réo rắt vang trên “sa mạc” gạch vụn còn bốc hơi bom. Các trận địa pháo ngẩn ngơ. Các anh nghe trong gió văng vẳng lời ca, hát về trận đánh của các anh. Cả nước bên các anh, trong cuộc đấu kinh hoàng này.
Đài trực chiến, không có máy thu âm. Chúng tôi hát trực tiếp. Nghỉ một lúc, đọc tin. Đọc tin xong lại hát, cứ thế kéo dài...
Tuy vậy, buổi chiều hôm ấy, có một đại úy trợ lý tác chiến của Trung đoàn pháo đến gặp.
- Hoan nghênh các đồng chí. Nhưng cả tuần tới, chúng sẽ đánh phá ác liệt hơn nữa, xác xuất thương vong sẽ rất lớn. Thủ trưởng chúng tôi ra lệnh các đồng chí phải rời thị xã ngay.
Tôi chạy ra kéo tay bà bán nước ngoài ga, nhập đoàn. Mấy đồng chí phóng viên báo chí từ Hà Nội về bám trụ trận địa cũng được lệnh rút. Họ xuýt xoa những vết xây xước trên mặt, phủi đất bụi chiến hào.
- Đã là “mặt trận” thì có lúc “tiến vào”, có lúc “rút ra” - họ lý sự. Riêng hai nhân viên của Đài truyền thanh tỉnh “kháng lệnh”, không rời.
Về đến nhà, Thúy Trinh ôm lấy chúng tôi khóc. Trinh năn nỉ xin chị Thanh đừng đuổi. Nghĩ đuổi nó bây giờ cũng gay. Giọng nó như oang vàng, cất lên tất cả im phắc. Đuổi nó thì ai sẽ hát bây giờ, Trang và Như sao bằng được nó…
...Đội văn nghệ lưu động của chúng tôi dạo ấy nhiều ngày giáp trận căng thẳng, nhưng cũng có  những ngày thanh bình. Chúng tôi đang tuổi lớn, lại mơ mộng hát hò nên không thể không “lãng mạn”. Tôi thích cái Trinh, mỗi khi nghe nó hát, là lòng tôi xao xuyến. . Nhưng ngoài đời ngày thường ,nhìn nó gầy nhom, đen nhẻm, vú lép kẹp,  tôi không khỏi ngao ngán. Tôi thích Như, người nõn nà, ngực trắng muốt hở ra sau cổ áo trễ. Nhưng khi  nó lên sâu khấu , nhìn nó người ngay như ngỗng ỉa thì tôi lại chán...
Tôi chả biết nên như thế nào. Yêu Trinh hay là yêu Như. Còn Thúy Trang thì đã dứt khoát là không. Tôi với nó “xung khắc”. Nó chẳng coi tôi là cái “đinh rỉ” gì. Tôi biết nếu mà tôi mon men sờ đến gấu áo nó, nó tát cho một cái chứ chả đùa.Vì vậy không có vấn đề gì.
Chị Thúy Thanh đã qua lứa tuổi trẻ con. Chị là đàn chị, và đầy tâm sự. Mặt chị sáng vằng vặc, người cao lớn, nở nang, trắng nõn. Đến trận địa, các thủ trưởng đón chị trân trọng .Nhờ có chị mà chúng tôi được tiếp đãi như ông hoàng.Một lần có một  tiểu đoàn trưởng “hào hoa phong nhã” quyến luyến chị. Ông tiếp chị trong lều dã chiến, bàn phủ khăn trắng, cắm hoa cúc dại. Không biết ông nói gì mà trên đôi mi cong vút của chị long lanh một giọt nước mắt chảy dài.
- Bao giờ cuộc chiến này kết thúc hở anh - Chị hỏi.
Tiểu đoàn trưởng nói  chỉ biết rằng  cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng.
Chồng chị Thanh đi chiến trường miền Nam đã sáu, bảy năm. Báo chí luôn đăng tin chiến thắng, còn chồng chị thì không một dòng tin gửi về.
Chị là vợ có chồng đang chiến đấu ngoài mặt trận. Vị thế của chị đáng kính lắm. Chị phải giữ như giữ sơn hình ảnh cao quý ấy  của mình. Nhưng chị đang giữa tuổi xuân phơi phới, sức sống căng tràn, phải kìm nén lại. Chỉ còn biết trút vào tiếng hát. Vì thế tiếng hát của chị có gì sâu lắng, buồn buồn, chứ không lảnh lót hồn nhiên như bọn Thúy Trinh....
...Một lần tôi bắt gặp một mình chị tắm bờ sông đêm trăng. Tấm thân trần trắng muốt như tráng bạc. Chị bơi một vòng rồi dạo bờ cát. Tôi nấp sau bụi cây nhìn trộm. Trong tấm thân kia, một sức xuân ngùn ngụt đang bị gìm lại. Vì thế y tá cơ quan trước đây đã rỉ tai mọi người: Chị bị bệnh Íchtêri. Íchtêri tiếng Tây, nghĩa gì, chả ai biết. Người ta kiêng, không dịch ra tiếng ta. Nhưng đại khái nó là khi những khao khát tình dục mạnh quá, không được đáp ứng, người ta sẽ ngất đi. Ngất nhưng không chết được,  và cũng chả phải chạy chữa gì. Chỉ cần một bàn tay con giai xoa nhẹ vào đôi vú là Íchtêri sẽ tỉnh. Chuyện y tá nói tưởng chuyện đùa, ai ngờ một lần tôi được “trải nghiệm” thật. Hôm ấy, một chiều tháng ba nắng rấm rứt... Nắng tháng ba như lặn vào thịt da con gái, đốt lên sáng hồng. Nắng tháng ba làm chị Thanh bị một một cơn Íchtêri nặng. Tôi sang chơi ,thấy chị đang nằm “chết ngất” trong phòng, su chiêng phanh ra, hở đôi vú thần tiên. Tôi gọi mãi, chị không thưa. Tôi hoàn toàn vì tinh thần khoa học của bác sĩ, chứ không dám vớ vẩn gì, đưa tay xoa vú chị. Bác sĩ bảo chỉ cần xoa, nhưng tôi quá đà, ghé môi hôn vú chị. Hôn có hiệu nghiệm chữa bệnh hơn thật. Chị tỉnh dậy,  cười thẹn thùng:
- Cấm em không được nói với ai chuyện này nhé.
- Nhất định rồi
- Bây giờ bàn công việc. Ngay ngày mai xuống trận địa sông Cầu.
- Nhất trí
- Chị thấy cái Trinh với cái Như ,cả hai đều có vẻ “vấn vương” với em. Kỷ luật nghiêm đấy nhé. Không được lợi dụng hoàn cảnh “vào sống ra chết” của chiến tranh mà “sống gấp”, yêu đương bừa bãi.
- Vâng, em có làm gì đâu. Nhưng giả dụ em “yêu nghiêm túc” một đứa, cái Trinh hoặc cái Như, có được không?
- Yêu nghiêm túc thì được
- Theo chị, em nên yêu cái Trinh hay cái Như - Tôi hỏi?
- Khi em còn lựa chọn “tỉnh như sáo” thế tức là em chưa yêu ai. Yêu là phải mê muội cơ. Vì vậy tốt nhất là hãy chưa yêu. Để giành thời gian phấn đấu, tu dưỡng. Trên Ty văn hóa rất chú ý đến bọn mình. Có dịp là sẽ được bồi dưỡng đào tạo. Em còn quá trẻ, lại có “khả năng”, có “nhiệt tình”, tương  lai của em rất lớn.
Tôi nghe lời chị Thanh, không yêu ai lằng nhằng nữa…
Năm 1973, cuộc ném bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt. Các trận địa pháo rút dần, nên các đội văn hóa lưu động của chúng tôi cũng giải tán, rút về Ty nhập vào các đơn vị khác.
Tôi “nhiều thành tích” nên được cho đi “bổ túc văn hóa”, và bất ngờ được đi học  Liên Xô, ngành đạo diễn. Phong trào văn nghệ quần chúng đang phát triển rầm rộ. Tỉnh cần người có chuyên môn giỏi. Ừ, có thế chứ, có lẽ tôi lắm tài thật, gì cũng biết. Sáng tác chèo, kịch cương, hoạt cảnh, là linh hồn của Đội văn hóa lưu động, cùng chị Thanh tổ chức biểu diễn xông xáo suốt mấy năm qua. Đi học Đạo diễn là đúng rồi.
Sang đến Liên Xô, cả đoàn 16 người, phần lớn từ các Ty văn hóa các tỉnh. Bộ văn hóa đã ưu tiên chỉ tiêu đi học cho các cơ sở bám sát chiến đấu…
Các ông giáo sư Liên Xô thấy nhiều người học Đạo diễn quá, phải điều chuyển bớt sang các bộ môn khác, cho cân đối quy hoạch đào tạo. Thế là oái oăm thay, tôi được “ưu tiên”học nghề “cao sang” nhất: “Lý luận nghệ thuật”
Lý luận nghệ thuật là cái gì?
Là những lý thuyết kinh điển đầy những thuật ngữ trừu tượng, bí hiểm của các ông giáo sư đầu bạc ở Viện Akađêmi (Hàn lâm) mà phần lớn người ta nghe chẳng hiểu gì.
Khổ thân tôi, anh nhà quê viết hoạt cảnh chèo, kéo nhị ,làm gì có tư duy lý luận. Tuy vậy, tôi cũng không đến nỗi ngu dốt lắm. Tôi đánh vật với nó, “học gạo”, “học vẹt”, tiếng Nga cho giỏi, ghi bài cho đúng cho đủ, mua sắm cả đống tài liệu tham khảo để “ăn cóp”. Kỳ lạ thật, sau năm năm tôi thành “Phó tiến sĩ nghệ thuật” (Sau này gọi là tiến sĩ) giống y như sự kỳ lạ mấy năm lăn lóc ở các trận địa pháo mà không chết.
Tôi về nước ,giảng dậy bộ môn này ở trường Cao đẳng Sâu khấu và Điện ảnh. Rồi được phong Phó Giáo sư. Cũng là đúng thôi. Có ai được học bài bản chính quy như tôi. Các anh khác là “du kích”, bản năng, tự phát hết. Chỉ có tôi mới biết trịnh trọng dẫn ra những lời kinh điển dòng nào trang nào, nguyên văn tiếng Nga sách bìa cứng mạ vàng... Tôi đọc từng câu cho học trò chép. Chúng nghe tai nọ sang tai kia, nên tôi cũng không phải băn khoăn quá làm gì nội dung những lời kinh điển khó nhớ. Trốn được tý nào hay tý ấy. Thế là tất cả cùng ổn. Trò yên thân, mà thầy cũng yên thân…
Phần chị Thanh,rất tiến bộ ,dần dần sau  làm đến  Giám đốc Sở văn hóa rồi Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách văn xã. Chồng chị hy sinh ngay từ những ngày đầu vào chiến trường, mà đến năm 1975 chị mới biết. Tuy vậy chị vẫn không đi bước nữa.Tất cả dồn tâm huyết vào công tác . Chị là Ủy viên Hội đồng này nọ, chấp hành phụ nữ Trung ương vv…. Sức sống thanh xuân rừng rực một thời dần suy giảm, phai tàn mà chưa một lần được thỏa nguyện. Chị như đóa hoa tuyệt đẹp , nhưng ở chót vót trên cao, tỏa sắc hương cho mây trời, còn trần gian không ai biết.
Tôi thỉnh thoảng vẫn về thăm chị. Hai chị em trân trọng, thân tình. Nhưng tôi có thể giúp gì được cho người đàn bà tài sắc về già, cô đơn...
Bất ngờ nhất là Thúy Trinh. Con nhóc “đen nhẻm, xấu mù” xưa ,giờ thành Nghệ sĩ ưu tú, nổi danh với giọng hát chèo. Nó vẫn đùa tôi: “Ngày trước cậu chê tớ gầy đen, không lấy tớ. Thằng ngu. Gầy rồi tao sẽ béo. Giờ tao chả béo quay, luôn phải nhịn ăn để giảm cân. Béo rồi, da căng là thành trắng…
Tôi hỏi thăm Thúy Như. Như thì hát hỏng loàng xoàng, sau ra khỏi văn công, làm cán bộ hành chính. Như đẹp bệ vệ như bà “quan huyện”, dắt con gái đến trường bảo tôi:
- Cậu phải xin cho con tớ vào học trường này.
- Nó có năng khiếu gì?
- Như tớ ngày xưa
- Thôi, đừng làm khổ nó. Về cho học ngành kế toán, ngân hàng, hành chính gì đó.
Như nghe tôi. Lúc chia tay, nó thắc mắc:
- Nghe nói cậu là Phó Giáo sư, Tiến sĩ nghệ thuật mà chả bao giờ thấy viết báo, lên truyền hình bình luận về các tác phẩm nghệ thuật hiện tại của ta đang trình diễn trên ti vi.
- Những tác phẩm “ăn xôi ở thì”, “mì ăn liền”, giải trí câu khách ấy, tớ bình luận làm gì. Tớ nghiên cứu lý luận kinh điển về nghệ thuật đỉnh cao của nhân loại cơ mà…
Riêng có Thúy Trang, dù đã tìm kiếm, nhưng tôi vẫn không biết giờ nó làm gì, ở đâu, nó vào miền Nam  mất biến mất tăm. Tôi tức lắm, chắc nó giờ vẫn coi tôi chả là cái đinh rỉ gì, mà tôi thì rất muốn cho nó biết giờ tôi là ai...
Nhớ “ba con nhóc”, thỉnh thoảng tôi lại lấy chiếc nhị ra kéo một bài. Tiếng nhị nghẹn ngào run rẩy, chả có gì mà tự nhiên nước mắt ứa trên mi.

 Đại Yên, 20-3-2014



 ĐỘI VĂN HÓA LƯU ĐỘNG

Truyện của
Nguyễn Phan Hách

Đội văn hóa lưu động của chúng tôi ngày ấy có năm người. Chị Thúy Thanh là trưởng đoàn. Thực ra chỉ có chị là “diễn viên chính ngạch”, hát múa có “bài bản”, còn tôi và “ba con nhóc”, Ty văn hóa mới nhặt từ các đội văn nghệ xã lên, trẻ ranh, vắt mũi chưa sạch.
Toàn tỉnh lúc ấy có bốn đội như thế, phân bố nhiều địa bàn trong tỉnh với nhiệm vụ đi về các trận địa pháo cao xạ, múa hát phục vụ bộ đội.
Trang bị của Đội nghèo nàn. “Trang âm” là hòm ắc quy có dây nối ra micro .“Dàn nhạc” có một cây nhị, một cây đàn bầu, một cây măng đô lin, tôi chơi là chính. “Ba con nhóc” cũng phải học phụ, để khi cần thì gẩy tấm tưng. Ba đứa, ngày xưa ở làng là ba “cái Hĩm”, cái “Gái”, nhưng lên đây chúng thành “Thúy” cả: Thúy Trinh, Thúy Trang, Thúy Như.
Thúy Trinh hát hay nhất. Còn Trang và Như thì loàng xoàng tàm tạm. Tuy vậy, chúng còn “có giọng”, chứ tôi thì chỉ là “thằng nhắng”, cái gì cũng biết một tý, nhưng chẳng cái gì đến nơi đến chốn. Tôi “ăn giải cạn” vì đoàn cần một thằng con giai mang vác đồ đạc.
Đại để hàng ngày công việc của chúng tôi như thế này: Buổi sáng đến một trận địa pháo nào đó… Các diễn viên thành “em gái” của các chiến sĩ. Vá áo cho chiến sĩ. Tâm sự chuyện trò. “Em gái hậu phương” ríu rít. Bộ đội quây quần. Hình bóng các cô, mái tóc dài thơm hoa bưởi, cánh tay trần trắng nõn còn nguyên phấn tuổi dậy thì, tiếng cười lanh lảnh trong veo … làm bừng sáng cả trận địa súng ống xù xì, lính tráng lộc ngộc, hố bom lở loét, mùi khói đạn khét lẹt lưu niên.
Đến mỗi trận địa, nhiệm vụ của tôi là phải nhanh chóng tìm hiểu địa danh, thành tích chiến đấu ở đây. Rồi bắt tay “sáng tác một bài hát chèo” nói về đơn vị này. Thực ra là đặt lời mới cho các làn điệu cổ. Các làn điệu Đào liễu, Tình thư hạ vị, Chức cẩm hồi văn… tôi đã thuộc lòng. Dán các lời mới vào nhanh như chớp.
Đại để sẽ như thế này… Dòng sông Cầu dạt dào xanh biếc (nếu trận địa gần sông Thương thì thay thành Sông Thương) .Núi Nham biền thấp thoáng bóng mây (Ch Nham biền, có thể thay tên khác) Súng cao nòng trận địa hôm nay. Quật ngã máy bay thù tan xác (nếu đơn vị đã hạ hai máy bay thì phải hát rõ là: hai máy bay thù tan xác).
Bài ấy sẽ hát mở màn…
Chúng tôi thường diễn trong hầm hào trận địa. Khi yên ắng, hát ngay bên mâm pháo. Đêm thì hát dưới trăng, không có đèn. Đèn lộ mục tiêu, máy bay Mỹ sẽ đến.
Phải nói “mấy con nhóc” khi hóa trang son phấn vào, chúng đẹp như tiên. Chính tôi cũng mê. Một khoảnh khắc làm tâm hồn các chiến sĩ suốt ngày đối mặt với đạn bom, được bay bổng, mơ màng. Bên cạnh tiết mục hát, tôi còn sáng tác các “hoạt cảnh” vui, tôi đóng vai hài. Nhưng giỏi nhất là “đạo diễn-tôi” lúc ấy đã biết nghĩ ra tiết mục: mời các chiến sĩ của đơn vị lên hát các bài đang thịnh hành thời ấy: Quảng Bình quê ta ơi; Tiếng đàn Ta lư; Trai anh hùng gái đảm đang; Trên quê hương quan họ vv…
Những buổi biểu diễn làm bừng lên không khí náo nức. Bộ đội, văn công, ríu rít, tình cảm, chia tay bịn rịn. Các chính trị viên phải công nhận nó có tác dụng động viên tinh thần chiến đấu, làm dịu sự căng thẳng, khốc liệt của chiến tranh. Bộ đội tặng chúng tôi nhiều phong lương khô là “Cao hương mỹ vị” thời chiến, chỉ trong các đơn vị mới có…
Đoàn chúng tôi đóng trụ sở trong một xóm nhỏ, có vị trí trung bình cách các trận địa pháo trên dưới mười cây số. Năm người, năm chiếc xe đạp, khi cần phóng véo một cái là tới nơi.
Xóm trụ sở, xa đầu mối giao thông, ít bị oanh tạc. Dân tình bám ruộng sản xuất. Con gái ra đồng cấy lúa, đem theo súng trường, gặp máy bay là nằm ngửa ra, bắn lên trời. Bọn phi công không phải không khiếp vía, khi nhao xuống thấp cắt bom, bị cả một rừng súng trường khắp các cánh đồng bắn lên.
Máy bay Mỹ hồi ấy thả bom thường từng đợt, từng chiến dịch, đặt tên là “Sấm rền”. Có đợt “Sấm rền” liền cả tuần, rồi “lười”, nghỉ cả tháng, cả năm. Có đợt Sấm rền cứ vào 12 giờ trưa trở đi, gọi là “giờ cao điểm”. Người ta bảo trưa nắng phi công nhìn rõ mục tiêu. Nhưng cũng có đợt “Sấm rền” lại chỉ bắt đầu từ 8 giờ tối. Chúng có máy móc xác định mục tiêu thế nào đó, trong khi dân gian mình quan niệm là thằng phi công cứ phải thò đầu qua cửa kính nhìn xuống.
Những trận đánh đêm, cả bầu trời bừng nở pháo hoa. Bom thả xuống, đạn bắn lên vang rền. Mảnh đạn cao xạ sắc lẻm rơi lụp bụp xuống đất, trúng vỡ đầu. Vì thế hồi ấy toàn dân phải cỏ mũ rơm. Mũ rơm như mũ phớt rộng vành Mêhicô, không phải che mưa nắng mà để che đạn bom. Đấy là “thời trang” của dân tộc này. Đoàn chúng tôi, ngoài nón ba tầm trang phục biểu diễn, còn có “thời trang mũ rơm” lúc nào cũng kè kè bên người…
Càng trong các đợt “Sấm rền”, chúng tôi càng phải hoạt động hết công xuất. Nghe tin đánh ở đâu, là phải ngay lập tức có mặt ở đó. Trận địa tan hoang, hố bom vẫn nghi ngút khói, nòng pháo trúng bom cong queo, xác chiến sĩ hy sinh máu chảy chưa khô, người bị thương quằn quại. Đội văn công chúng tôi thành y ta chiến trường, xúm vào băng bó, khênh cáng. Chả cứ chúng tôi, các cô dân quân, mẹ chiến sĩ các làng xung quanh cùng có mặt kịp thời mang theo hoa trái, tặng bộ đội. Thường thì chỉ sau vài giờ, trận địa đã được “dọn dẹp sạch sẽ”. Pháo lại vào bệ ngay ngắn. Pháo thủ bổ xung phiên chế đ cơ số, kịp thời thay thế người đã chết. Khẩu đội trưởng đã vào vị trí tay lăm lăm cầm cờ lệnh đỏ chói, sẵn sàng đón trận đánh mới. Phóng viên báo chí “hớt hơ hớt hải” đạp xe đến, ghi ghi chép chép, chụp ảnh quay phim. Và chính lúc ấy văn công chúng tôi trình diễn, phấn son rực rỡ, yếm đào xà tích, áo mớ bẩy mớ ba, nón ba tầm khoác vai, đứng hát véo von, tay chân múa lượn, nhưng nhìn kỹ có khi tay còn vết máu chiến sĩ bị thương…
Ban đầu chỉ có chị Thúy Thanh và tôi là gan dạ trước cảnh bom đạn, người chết, còn ba con nhóc sợ run. Chúng luýnh qua luýnh quýnh băng bó cho bộ đội, mặt cắt không còn hột máu. Hát trước ống kính phóng viên mà chúng đứt cả hơi. Dần dà, mãi chúng mới đỡ sợ. Biểu diễn nơi trận địa rồi cũng dần thành “nghề” của chúng. Chúng không muốn về quê đi cấy, chân lấm tay bùn nữa, mà chỉ muốn ở đây làm “văn công”…
Thị xã Sông Thương ngày ấy có cầu lớn, đường sắt quốc gia chạy qua nên là “túi đựng bom”. Phố xá gần như đã bị san bằng, chỉ còn những đống gạch vụn. Quảng trường chi chít hố bom nước xanh lơ, ễnh ương bơi lội.
Nhiều đêm chúng tôi phải ở lại thị xã để phục vụ, vì ở đây dày đặc trận địa với các khẩu pháo cao xạ nòng chĩa thẳng hướng chính diện đón lõng máy bay lao xuống cắt bom...
Thị xã phồn hoa xưa, giờ chỉ thấy tiếng hót của chim rừng từ đâu bay lạc tới. Nhà ga lù mù ánh đèn dầu hỏa, những con tầu hồng hộc vội vã chạy qua. Sân ga vắng lặng, duy nhất có một bà bán nước chè xanh từ hồi chiến tranh phá hoại nổ ra đến giờ. Nhà ga là tiêu điểm số 1 bắn phá, ai phải qua đây, hớt hải chạy cho nhanh. Thế mà bà cứ ở đây năm này tháng khác. Chúng tôi cùng cảnh “dân thị xã” với bà, nên thân tình, kết nạp bà làm hàng xóm, thỉnh thoảng “ngồi vểnh râu” uống hớp nước chè xanh với kẹo lạc, trên “sân ga ấm cúng” sợ mất vía của bà.
Một lần, tin trên cho biết, ngày mai sẽ có đợt “Sấm rền” ác liệt nhất từ xưa tới nay, tại đây, chúng quyết  dứt điểm phá xập cầu, bom đạn sẽ khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi.
Đêm thị xã căng ra như dây đàn. Còn ai sót lại thì trốn hết.
Tôi gặp mấy ông xe thồ. Các ông này “anh hùng” chẳng kém ai, thường phục sẵn ở đây, bom dội, nhà đổ, là kịp thời lấy gạch vụn đi. Không nhanh, thằng “anh hùng” khác, nó tranh mất. Nhưng lần này mấy ông xe thồ cũng lục tục thu dọn đồ nghề bảo tôi: “Chuồn thôi chú mày ạ”.
Chị Thanh bàn bàn với tôi:
- Hay ta cũng tạm sơ tán qua đợt “Sấm rền” này.
Tôi bây giờ là “Chính ủy”, để nghĩ đã. Một mình tôi bước lơ vơ trên đường phố. Ngó vào căn nhà lở loét (xưa là trụ sở Đài phát thanh tỉnh) thấy có ánh đèn. Một anh phóng viên và một nhân viên kỹ thuật vồ lấy tôi như người giữa hoang đảo gặp nhau.
- Chúng tôi được “biệt phái” về đây trực chiến - Hai anh nói - Viết tin kịp thời tại chỗ, phát thanh tức thì ngay trong thời gian đang diễn ra trận đánh, để nâng cao tinh thần bộ đội, toàn dân sát cánh trực chiến bên các anh. Máy nổ và hệ thống loa tốt lắm, cả thị xã nghe được.
- Và tôi sẽ sáng tác ngay một bài hát chèo cập nhật tin chiến thắng, cho diễn viên hát trực tiếp trước máy- Tôi bổ xung kế hoạch.
- Hay quá . Tuyệt - Các anh reo. Tôi về thông báo công việc cho chị Thanh. Chị đồng ý, nhưng “ca sĩ” Thúy Trinh run cầm cập.
- Ở lại khác gì chìa tay ra hứng bom. Mọi lần là bình thường ,nhưng lần này ác liệt đặc biệt. Trên đã nói thế rồi. Ai bắt mình phải dán lưng xuống đất chịu bom.
- Nội thị xã này hiện còn vài trăm bộ đội dân quân, ngày mai, mặt đối mặt với địch. Ngày mai, nếu tiếng hát của chúng ta vang trên nền đạn bom, có tác dụng biết chừng nào.
Thúy Trinh khóc, lặng lẽ ra lấy xe đạp:
- Chị Thanh cho em về, em sợ lắm.
- Sao các lần trước không sợ
- Lần trước khác. Lần này khác. Trải qua vài lần, em đã ngấm đòn rồi. Cái chết kề bên.
Trinh lao xe ra đường, chạy trốn khỏi thị xã.
Trang và Như nhìn theo ngẩn ngơ.
Tôi quát:
- Cấm không cho cô nào được rời vị trí chiến đấu.
Chị Thanh cứng cỏi:
- T giờ phút này Trinh đã bị đuổi khỏi đoàn
Trang và Như nói:
- Có nó là hát hay nhất. Đuổi đi thì còn ai.
Chị Thanh dịu dàng:
- Hai em Trang và Như, ngày mai cứ mở miệng trên loa, dù thế nào chăng nữa cũng cứ thành tiếng hát tuyệt vời, khắc trong tâm khảm mọi người.
Quả nhiên trưa hôm sau, chiến dịch “Sấm rền” này của chúng khủng khiếp thật .Hàng đàn máy bay F105 hình cổ ngỗng dài ngoẵng, và F4 biệt hiệu Con Ma, hình chiếc vỉ ruồi, quần đảo, thả bom. Tuy nhiên bị pháo bắn dữ quá, cắt bom từ trên cao, nên vẫn không trúng cầu. Thị xã “vinh hạnh” hứng hết.
Chúng tôi ngồi dưới hầm đất rung xóc ốc.
Tôi bảo Trang và Như:
- Chúng mình được ẩn dưới hầm kín. Còn các chiến sĩ cao xạ và dân quân “lộ thiên” mặt đối mặt, nhìn thấy bom rơi như vãi đ trên đầu. Vậy ta sợ gì?
Một tiếng sau ,bom ngớt dần. Bọn phi công Mỹ chắc cũng nhát như cái Trinh nên bỏ chạy. Lập tức loa truyền thanh tỉnh vang dội vỡ òa đọc tin chiến thắng. Cầu vẫn còn nguyên. Một máy bay cổ ngỗng bị bắn trúng, lao xuống sông Thương, phi công nhảy dù nổi lềnh phềnh trên nước như Sứa, dân quân bơi thuyền ra bắt.
Với cái nội dung nhiều sự kiện như thế, mà loáng một cái tôi đã chuyển tải hết vào bài hát chèo điệu “Đào liễu”. Dẫn ba “ca sĩ anh hùng”, chúng tôi lao vót đến “Đài phát thanh”, và hát liền. Cả hệ thống loa oang oang. Tiếng hát ngân nga, tiếng nhị réo rắt vang trên “sa mạc” gạch vụn còn bốc hơi bom. Các trận địa pháo ngẩn ngơ. Các anh nghe trong gió văng vẳng lời ca, hát về trận đánh của các anh. Cả nước bên các anh, trong cuộc đấu kinh hoàng này.
Đài trực chiến, không có máy thu âm. Chúng tôi hát trực tiếp. Nghỉ một lúc, đọc tin. Đọc tin xong lại hát, cứ thế kéo dài...
Tuy vậy, buổi chiều hôm ấy, có một đại úy trợ lý tác chiến của Trung đoàn pháo đến gặp.
- Hoan nghênh các đồng chí. Nhưng cả tuần tới, chúng sẽ đánh phá ác liệt hơn nữa, xác xuất thương vong sẽ rất lớn. Thủ trưởng chúng tôi ra lệnh các đồng chí phải rời thị xã ngay.
Tôi chạy ra kéo tay bà bán nước ngoài ga, nhập đoàn. Mấy đồng chí phóng viên báo chí từ Hà Nội về bám trụ trận địa cũng được lệnh rút. Họ xuýt xoa những vết xây xước trên mặt, phủi đất bụi chiến hào.
- Đã là “mặt trận” thì có lúc “tiến vào”, có lúc “rút ra” - họ lý sự. Riêng hai nhân viên của Đài truyền thanh tỉnh “kháng lệnh”, không rời.
Về đến nhà, Thúy Trinh ôm lấy chúng tôi khóc. Trinh năn nỉ xin chị Thanh đừng đuổi. Nghĩ đuổi nó bây giờ cũng gay. Giọng nó như oang vàng, cất lên tất cả im phắc. Đuổi nó thì ai sẽ hát bây giờ, Trang và Như sao bằng được nó…
...Đội văn nghệ lưu động của chúng tôi dạo ấy nhiều ngày giáp trận căng thẳng, nhưng cũng có  những ngày thanh bình. Chúng tôi đang tuổi lớn, lại mơ mộng hát hò nên không thể không “lãng mạn”. Tôi thích cái Trinh, mỗi khi nghe nó hát, là lòng tôi xao xuyến. . Nhưng ngoài đời ngày thường ,nhìn nó gầy nhom, đen nhẻm, vú lép kẹp,  tôi không khỏi ngao ngán. Tôi thích Như, người nõn nà, ngực trắng muốt hở ra sau cổ áo trễ. Nhưng khi  nó lên sâu khấu , nhìn nó người ngay như ngỗng ỉa thì tôi lại chán...
Tôi chả biết nên như thế nào. Yêu Trinh hay là yêu Như. Còn Thúy Trang thì đã dứt khoát là không. Tôi với nó “xung khắc”. Nó chẳng coi tôi là cái “đinh rỉ” gì. Tôi biết nếu mà tôi mon men sờ đến gấu áo nó, nó tát cho một cái chứ chả đùa.Vì vậy không có vấn đề gì.
Chị Thúy Thanh đã qua lứa tuổi trẻ con. Chị là đàn chị, và đầy tâm sự. Mặt chị sáng vằng vặc, người cao lớn, nở nang, trắng nõn. Đến trận địa, các thủ trưởng đón chị trân trọng .Nhờ có chị mà chúng tôi được tiếp đãi như ông hoàng.Một lần có một  tiểu đoàn trưởng “hào hoa phong nhã” quyến luyến chị. Ông tiếp chị trong lều dã chiến, bàn phủ khăn trắng, cắm hoa cúc dại. Không biết ông nói gì mà trên đôi mi cong vút của chị long lanh một giọt nước mắt chảy dài.
- Bao giờ cuộc chiến này kết thúc hở anh - Chị hỏi.
Tiểu đoàn trưởng nói  chỉ biết rằng  cuối cùng chúng ta sẽ chiến thắng.
Chồng chị Thanh đi chiến trường miền Nam đã sáu, bảy năm. Báo chí luôn đăng tin chiến thắng, còn chồng chị thì không một dòng tin gửi về.
Chị là vợ có chồng đang chiến đấu ngoài mặt trận. Vị thế của chị đáng kính lắm. Chị phải giữ như giữ sơn hình ảnh cao quý ấy  của mình. Nhưng chị đang giữa tuổi xuân phơi phới, sức sống căng tràn, phải kìm nén lại. Chỉ còn biết trút vào tiếng hát. Vì thế tiếng hát của chị có gì sâu lắng, buồn buồn, chứ không lảnh lót hồn nhiên như bọn Thúy Trinh....
...Một lần tôi bắt gặp một mình chị tắm bờ sông đêm trăng. Tấm thân trần trắng muốt như tráng bạc. Chị bơi một vòng rồi dạo bờ cát. Tôi nấp sau bụi cây nhìn trộm. Trong tấm thân kia, một sức xuân ngùn ngụt đang bị gìm lại. Vì thế y tá cơ quan trước đây đã rỉ tai mọi người: Chị bị bệnh Íchtêri. Íchtêri tiếng Tây, nghĩa gì, chả ai biết. Người ta kiêng, không dịch ra tiếng ta. Nhưng đại khái nó là khi những khao khát tình dục mạnh quá, không được đáp ứng, người ta sẽ ngất đi. Ngất nhưng không chết được,  và cũng chả phải chạy chữa gì. Chỉ cần một bàn tay con giai xoa nhẹ vào đôi vú là Íchtêri sẽ tỉnh. Chuyện y tá nói tưởng chuyện đùa, ai ngờ một lần tôi được “trải nghiệm” thật. Hôm ấy, một chiều tháng ba nắng rấm rứt... Nắng tháng ba như lặn vào thịt da con gái, đốt lên sáng hồng. Nắng tháng ba làm chị Thanh bị một một cơn Íchtêri nặng. Tôi sang chơi ,thấy chị đang nằm “chết ngất” trong phòng, su chiêng phanh ra, hở đôi vú thần tiên. Tôi gọi mãi, chị không thưa. Tôi hoàn toàn vì tinh thần khoa học của bác sĩ, chứ không dám vớ vẩn gì, đưa tay xoa vú chị. Bác sĩ bảo chỉ cần xoa, nhưng tôi quá đà, ghé môi hôn vú chị. Hôn có hiệu nghiệm chữa bệnh hơn thật. Chị tỉnh dậy,  cười thẹn thùng:
- Cấm em không được nói với ai chuyện này nhé.
- Nhất định rồi
- Bây giờ bàn công việc. Ngay ngày mai xuống trận địa sông Cầu.
- Nhất trí
- Chị thấy cái Trinh với cái Như ,cả hai đều có vẻ “vấn vương” với em. Kỷ luật nghiêm đấy nhé. Không được lợi dụng hoàn cảnh “vào sống ra chết” của chiến tranh mà “sống gấp”, yêu đương bừa bãi.
- Vâng, em có làm gì đâu. Nhưng giả dụ em “yêu nghiêm túc” một đứa, cái Trinh hoặc cái Như, có được không?
- Yêu nghiêm túc thì được
- Theo chị, em nên yêu cái Trinh hay cái Như - Tôi hỏi?
- Khi em còn lựa chọn “tỉnh như sáo” thế tức là em chưa yêu ai. Yêu là phải mê muội cơ. Vì vậy tốt nhất là hãy chưa yêu. Để giành thời gian phấn đấu, tu dưỡng. Trên Ty văn hóa rất chú ý đến bọn mình. Có dịp là sẽ được bồi dưỡng đào tạo. Em còn quá trẻ, lại có “khả năng”, có “nhiệt tình”, tương  lai của em rất lớn.
Tôi nghe lời chị Thanh, không yêu ai lằng nhằng nữa…
Năm 1973, cuộc ném bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt. Các trận địa pháo rút dần, nên các đội văn hóa lưu động của chúng tôi cũng giải tán, rút về Ty nhập vào các đơn vị khác.
Tôi “nhiều thành tích” nên được cho đi “bổ túc văn hóa”, và bất ngờ được đi học  Liên Xô, ngành đạo diễn. Phong trào văn nghệ quần chúng đang phát triển rầm rộ. Tỉnh cần người có chuyên môn giỏi. Ừ, có thế chứ, có lẽ tôi lắm tài thật, gì cũng biết. Sáng tác chèo, kịch cương, hoạt cảnh, là linh hồn của Đội văn hóa lưu động, cùng chị Thanh tổ chức biểu diễn xông xáo suốt mấy năm qua. Đi học Đạo diễn là đúng rồi.
Sang đến Liên Xô, cả đoàn 16 người, phần lớn từ các Ty văn hóa các tỉnh. Bộ văn hóa đã ưu tiên chỉ tiêu đi học cho các cơ sở bám sát chiến đấu…
Các ông giáo sư Liên Xô thấy nhiều người học Đạo diễn quá, phải điều chuyển bớt sang các bộ môn khác, cho cân đối quy hoạch đào tạo. Thế là oái oăm thay, tôi được “ưu tiên”học nghề “cao sang” nhất: “Lý luận nghệ thuật”
Lý luận nghệ thuật là cái gì?
Là những lý thuyết kinh điển đầy những thuật ngữ trừu tượng, bí hiểm của các ông giáo sư đầu bạc ở Viện Akađêmi (Hàn lâm) mà phần lớn người ta nghe chẳng hiểu gì.
Khổ thân tôi, anh nhà quê viết hoạt cảnh chèo, kéo nhị ,làm gì có tư duy lý luận. Tuy vậy, tôi cũng không đến nỗi ngu dốt lắm. Tôi đánh vật với nó, “học gạo”, “học vẹt”, tiếng Nga cho giỏi, ghi bài cho đúng cho đủ, mua sắm cả đống tài liệu tham khảo để “ăn cóp”. Kỳ lạ thật, sau năm năm tôi thành “Phó tiến sĩ nghệ thuật” (Sau này gọi là tiến sĩ) giống y như sự kỳ lạ mấy năm lăn lóc ở các trận địa pháo mà không chết.
Tôi về nước ,giảng dậy bộ môn này ở trường Cao đẳng Sâu khấu và Điện ảnh. Rồi được phong Phó Giáo sư. Cũng là đúng thôi. Có ai được học bài bản chính quy như tôi. Các anh khác là “du kích”, bản năng, tự phát hết. Chỉ có tôi mới biết trịnh trọng dẫn ra những lời kinh điển dòng nào trang nào, nguyên văn tiếng Nga sách bìa cứng mạ vàng... Tôi đọc từng câu cho học trò chép. Chúng nghe tai nọ sang tai kia, nên tôi cũng không phải băn khoăn quá làm gì nội dung những lời kinh điển khó nhớ. Trốn được tý nào hay tý ấy. Thế là tất cả cùng ổn. Trò yên thân, mà thầy cũng yên thân…
Phần chị Thanh,rất tiến bộ ,dần dần sau  làm đến  Giám đốc Sở văn hóa rồi Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách văn xã. Chồng chị hy sinh ngay từ những ngày đầu vào chiến trường, mà đến năm 1975 chị mới biết. Tuy vậy chị vẫn không đi bước nữa.Tất cả dồn tâm huyết vào công tác . Chị là Ủy viên Hội đồng này nọ, chấp hành phụ nữ Trung ương vv…. Sức sống thanh xuân rừng rực một thời dần suy giảm, phai tàn mà chưa một lần được thỏa nguyện. Chị như đóa hoa tuyệt đẹp , nhưng ở chót vót trên cao, tỏa sắc hương cho mây trời, còn trần gian không ai biết.
Tôi thỉnh thoảng vẫn về thăm chị. Hai chị em trân trọng, thân tình. Nhưng tôi có thể giúp gì được cho người đàn bà tài sắc về già, cô đơn...
Bất ngờ nhất là Thúy Trinh. Con nhóc “đen nhẻm, xấu mù” xưa ,giờ thành Nghệ sĩ ưu tú, nổi danh với giọng hát chèo. Nó vẫn đùa tôi: “Ngày trước cậu chê tớ gầy đen, không lấy tớ. Thằng ngu. Gầy rồi tao sẽ béo. Giờ tao chả béo quay, luôn phải nhịn ăn để giảm cân. Béo rồi, da căng là thành trắng…
Tôi hỏi thăm Thúy Như. Như thì hát hỏng loàng xoàng, sau ra khỏi văn công, làm cán bộ hành chính. Như đẹp bệ vệ như bà “quan huyện”, dắt con gái đến trường bảo tôi:
- Cậu phải xin cho con tớ vào học trường này.
- Nó có năng khiếu gì?
- Như tớ ngày xưa
- Thôi, đừng làm khổ nó. Về cho học ngành kế toán, ngân hàng, hành chính gì đó.
Như nghe tôi. Lúc chia tay, nó thắc mắc:
- Nghe nói cậu là Phó Giáo sư, Tiến sĩ nghệ thuật mà chả bao giờ thấy viết báo, lên truyền hình bình luận về các tác phẩm nghệ thuật hiện tại của ta đang trình diễn trên ti vi.
- Những tác phẩm “ăn xôi ở thì”, “mì ăn liền”, giải trí câu khách ấy, tớ bình luận làm gì. Tớ nghiên cứu lý luận kinh điển về nghệ thuật đỉnh cao của nhân loại cơ mà…
Riêng có Thúy Trang, dù đã tìm kiếm, nhưng tôi vẫn không biết giờ nó làm gì, ở đâu, nó vào miền Nam  mất biến mất tăm. Tôi tức lắm, chắc nó giờ vẫn coi tôi chả là cái đinh rỉ gì, mà tôi thì rất muốn cho nó biết giờ tôi là ai...
Nhớ “ba con nhóc”, thỉnh thoảng tôi lại lấy chiếc nhị ra kéo một bài. Tiếng nhị nghẹn ngào run rẩy, chả có gì mà tự nhiên nước mắt ứa trên mi.

 Đại Yên, 20-3-2014