Tháng giêng rộng dài câu Quan Họ

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013


BẾP NÚC XUẤT BẢN MỘT THỜI

Trích ghi chép của Nguyễn Phan Hách
        Trong thời chiến, công tác tư tưởng tập trung cao độ ,tất cả để chiến thắng. Sang thời bình, có quy luật phổ biến của nó. Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tinh hoa thường có những đóng góp tiên tiến đáng kể. Bối cảnh lúc đó truyền thông còn hạn chế, chưa có truyền hình Internet, thì “diễn đàn” Nhà xuất bản Tác phẩm mới ( thành lập năm 1976) là địa chỉ khá nhạy cảm của tư tưởng. Hàng ngày nó in ấn những tác phẩm văn thơ, lý luận... được phổ biến sâu rộng trong nhân dân.
        Trước đổi mới, nhiều vấn đề của tư tưởng tiến bộ, thường được diễn đạt kín đáo uyển chuyển trong văn chương. Thực sự, lúc đó văn chương có vai trò quan trọng. Mỗi cuốn sách lúc đó in ra 10.000 bản. Để in được nó khó khăn vô cùng. Các khâu biên tập, duyệt chặt chẽ, tuyệt đối đúng quy trình. Nhà xuất bản được ngân sách chu cấp hàng năm. Khác hẳn thời thị trường sau này người ta có thể bỏ tiền ra in sách của mình, đồng thời với các quan niệm đã được cởi mở thông thoáng.
        Ngày nay, với truyền thông phát triển, với khối lượng sách in ồ ạt trong 20 năm qua, gần như đã bão hòa, đương nhiên mỗi cuốn sách ra đời, không còn là sự kiện quan trọng nữa (trừ các cuốn chất lượng cao, đặc biệt).
        Vào giai đoạn (1976 - 1986) Nhà xuất bản Tác phẩm mới (thuộc Hội Nhà văn Việt Nam)  tập hợp được một đội ngũ biên tập có chất lượng, đang sung sức, có ý chí, dám phản biện, khát vọng tiến bộ xã hội, hướng tới văn minh tiên tiến. Anh Vũ Tú Nam là giám đốc Tổng Biên tập, trung dung ôn hòa. Anh Nguyễn Kiên phụ trách phòng Văn xuôi là phòng nặng nhất, là người không bảo thủ. Dàn cán bộ biên tập có một số nhân vật như: Bng Việt, Xuân Quỳnh, Lê Minh Khuê, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Ý Nhi, , Nguyễn Phan Hách... Phần lớn những người này đều có điểm chung  là không bằng lòng với những “giáo điều văn nghệ”, không bảo thủ cứng nhắc, đều khát khao những tiến bộ mà sau này là nội dung của thời đổi mới.
        Tôi còn nhớ, mỗi buổi làm việc, chúng tôi thường tụ tập tại phòng khách nói chuyện hàng tiếng đồng hồ toàn những chuyện của tư tưởng, văn nghệ, thật tự do, thoải mái, chân thực, “đổi mới, vô hình trung đó là những buổi “trao đổi” để hình thành nên quan điểm tiến bộ trong sáng tác, biên tập.
        Một lần ông Chế Lan Viên từng trải hơn, thấy “bọn này” nói năng “thẳng thắn, mạnh bạo” quá,  khuyên phải cẩn thận hơn. Ông Viên trước đây làm chức Tổng Biên tập Tạp chí Tác phẩm mới, tự nhiên có quyết định nghỉ chức . Ông nói nửa đùa nửa thật:Miễn nhiệm phải có lý do chứ”. Cho nên ông thận trọng hơn ,dặn “bọn ngựa non háu đá”. Thực ra, hồi đó chúng tôi đang là “con cưng”. Cấp trên có lần đột nhiên tăng lương cho vượt hai ba bậc. Lần lượt ai cũng được đi trao đổi văn hóa ở Liên Xô...
        Năm 1980, Nhà xuất bản dịch in cuốn “Chuyện thường ngày ở huyện” (Liên Xô) Trong đó nội dung phê phán những bất cập, tiêu cực trong đời sống nông trang tập thể ở Liên Xô. Đây là lần đầu tiên ở ta “dám xuất hiện” nội dung này, nó bóng gió có gì giông giống như lề thói ở ta. Cuốn sách dày, khó đọc, chuyện sản xuất khô khan, việc nhiều hơn người, nhưng nó đã như một luồng gió mới, thổi khắp nước. Chuyện khoanh trong nông trang, nhưng gợi được sự bức xúc mở rộng ra xã hội lúc bấy giờ.
        Tôi “học tập tình thần” đó, viết cuốn tiểu thuyết “Tan mây” (1981) trong bối cảnh đang có Nghị quyết khoán 10 trong Nông nghiệp, và tôi đã giám phê phán lề thói cũ.
        Trước đổi mới, có bao “vụ án văn chương” làm mọi người e ngại. Chỉ là mấy bài ký, truyện “Cái gốc”, “Tình rừng”, “Cây táo ông Lành”... nhưng rất to chuyện. Trước nữa, ông Hà Minh Tuân mất cả chức Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, rời khỏi Hội Nhà văn khi viết tiểu thuyết “Vào đời”. Viết lách, in ấn lúc ấy đâu phải chuyện đùa. Phạm Tiến Duật ở chiến trường về nhưng cũng bị phê phán nặng vì bài thơ “Vòng trắng”.
        Tuy vậy, thời kỳ quá lo âu đã qua. Vào giai đoạn này ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới “đã mọc” ra một “dàn biên tập” dám đi tiên phong tư tưởng. Tôi đã viết những câu thơ đăng báo Văn nghệ hẳn hoi khi miêu tả những con búp bê:
ở một nước nào kia
Búp bê hình cầm súng
Búp bê không cần xinh
Không đẹp nhưng cần đúng
Mặt búp bê thường thôi
Súng phải màu đẹp bóng...
        Câu thơ nói về nước khác , nhưng động chạm đến quan điểm văn nghệ “đẹp và đúng” cái nào cần hơn một thời...
Tiếp theo “Chuyện thường ngày ở huyện tác động vang dội đến tư tưởng người ta lúc bấy giờ, đến tập “Những người thích đùa” của A zít Nê xin (Thổ Nhĩ Kỳ). Truyện mang tính trào phúng miêu tả mặt trái của xã hội Thổ Nhĩ Kỳ nhưng có tính điển hình cho mọi xã hội ở các quốc gia. Truyện vui, dễ đọc, khắp nơi cười rúc rích. Thực ra thì đời sống xã hội con người ở đâu, nước nào chả có những bi hài kịch trớ trêu. Càng phương Tây càng lắm. Nhưng ở ta, quen quan niệm ta không có bi hài kịch, không được viết về cái đó. Nên đây là lần đầu tiên, người ta hả hê cười với nhau, cười để thấy cái xấu mà sửa chữa, vậy là rất tốt. Cuốn sách vô hình trung đã gợi mở hướng nghĩ tiến bộ này cho mọi người. Tác dụng của văn học vào những thời điểm nào đó, quả là có tác dụng to lớn. Chỉ Nhà xuất bản Tác phẩm mới, mới in được “Những người thích đùa”, tái bản vài chục lần, trong bối cảnh lúc đó, là một đóng góp cho đời sống tư tưng xã hội, cho tiến bộ, đổi mới…
        Nếu “Những người thích đùa” dịch in vào thời điểm hôm nay, chẳng ai quan tâm ,tác dụng chẳng là bao. Thế mới biết thời điểm ra đời của tác phẩm là quan trọng. Nhân chuyện này, tôi muốn nói là vào những thời điểm nào đó, công của những người làm xuất bản là rất đáng ghi nhận. Với một bản thảo, họ có quyền bác, không in, hoặc để lại, in không đúng thời điểm. Có ai “dắt tay chỉ việc” cho họ đâu. Tất cả đều do lương tri của họ, sứ mệnh của họ. Họ đã dám ký duyệt in những cuốn không “suôn sẻ”, và khi ra đời có cuốn đã là những mc son văn hóa. Sách ra, người ta chỉ ngợi ca tác giả, ai để ý đến “bà đỡ”. Bà đỡ vụng đôi khi có thể làm nguy hiểm đến “tính mạng” đứa trẻ sơ sinh. Dư luận đôi khi còn cay nghiệt với họ, vì họ đã cắt đi đoạn này đoạn kia. Ít người cảm thông cho trách nhiệm của người biên tập và “chịu trách nhiệm xuất bản”. Nếu vì lý do nào đó mà không ký in cuốn này cuốn kia, còn bị chửi bới, chê bai là dốt, là hèn. Có một vài Giám đốc, Tổng Biên tập đã bị mất chức vì các “sự cố”, âm thầm lùi vào bóng tối, chịu phần thua thiệt đời thường…
        Năm 1982, với trách nhiệm thường trực Phòng Văn xuôi, tôi biên tập cuốn “Gặp gỡ cuối năm” của Nguyễn Khải, và một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu. “Gặp gỡ cuối năm” in lần đầu 16.100 bản, gây dư luận vang dội vì sự điêu luyện văn chương, vì những ý tưởng tiến bộ, cởi mở của nó. Nhưng ai biết đâu, tôi đã phải đ nghị tác giả sửa 11 chỗ. Tác giả đồng ý sửa 10 chỗ, còn 1 chỗ xin giữ nguyên. Vào thời điểm 1982, bốn năm sau mới có đổi mới, tôi đã dò từng chữ từng câu của anh Khải, mặc dù anh Khải đang là thường vụ Ban chấp hành phụ trách khối Sáng tác – Báo chí –Xuất bản. Anh có thể ghét tôi, thuyên chuyển công tác của tôi. Bản giám định của tôi được người Biên tập thứ hai là Xuân Quỳnh ủng hộ. Ông Nguyễn Kiên phụ trách, là người đọc thứ ba. Một cuộc nhóm họp để ra quyết định in. Cuốn sách nổi tiếng vang lừng, trong họp hành tổng kết luôn nhắc đến nhưng không ai “động viên” biên tập viên một câu. Ngược lại, nếu có gì “sai chính trị” thì người đu tiên bị kỷ luật là biên tập từ khiển trách, cảnh cáo, đến buộc thôi việc. Tôi đã thấy ở nhà xuất bản này nhiều người (trong đó có tôi) đã bị kỷ luật. Có người đang là Phó Giám đốc mà bị chuyển đi nơi khác. Vì vậy, quyết định in một tác phẩm “gai góc” không phải chuyện đùa. Mơ hồ, lười nhác, vô trách nhiệm, hoặc trình độ non yếu bị “lãnh đủ”tức thì. Không có nghề nào “nguy hiểm”, nhậy cảm bằng nghề biên tập sách văn chương ở Nhà xuất bản Tác phảm mới thời ấy.
        Khi ông Nguyễn Minh Châu gửi đến một loạt truyện ngắn như cánh én mùa xuân báo hiệu đổi mới, chúng tôi đã chụm đầu vào nhau bàn bạc. Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của anh rất hay, (sau được đưa vào dậy trong chương trình Phổ thông trung học) nhưng lúc đó sao mà ngần ngại. Truyện đại ý kể về Bức ảnh Chiếc thuyền ngoài xa trong sương mờ đẹp và thơ mộng, có thể làm bìa lịch được. Nhưng cảnh sống nhà chài trong chiếc thuyền ấy thì đầy đau khổ, bi kịch. Người ta vào lúc ấy có thể suy diễn Nghệ thuật của ta tô hồng cuộc sống, không nhìn thấu cốt lõi khổ đau bên trong cuộc sống v.v… và v.v…
        Truyện đánh vào đường lối nghệ thuật của ta chăng? Vào lúc đó là to chuyện lắm.
        Tôi đã ký chữ ký thứ nhất, người biên tập, vào bản thảo in truyện ngắn này, bên cạnh các chữ ký ủng hộ của Xuân Quỳnh, Lê Minh Khuê, và chữ ký duyệt của anh Nguyễn Kiên.
        Truyện vừa “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” của anh Châu có hình ảnh cô gái điên đi trên con tàu vô định. Lại “phiền” nữa. Tôi lúc đó chỉ là học trò của anh Nguyễn Minh Châu. Nhưng “học trò” vẫn cứ phải đề nghị “thầy” sửa chữa 5 chỗ trong thiên truyện vừa này. Thầy biết tình hình lúc đó nên cũng đành nghe theo. Trò cũng chẳng sung sướng gì. Nhưng trò phải làm phận sự của mình, không thì trò cũng chết. Nhà văn viết ra, nếu là nhà văn lớn, có địa vị ,thì có thể chỉ bị “phê bình”, còn “thằng biên tập” mà để lọt tác phẩm có vấn đề thì chỉ có nước “chuyển công tác”!
Loạt truyện ngắn của anh Châu ra đời, được hoan nghênh nhiệt liệt. Báo Văn nghệ chuẩn bị hội thảo khen ngợi. Vậy mà anh Châu gặp tôi “mặt nhăn như bị”. Anh nói: làm thế nào để họ thôi cuộc hội thảo này, nhắc đến thêm rầy rà, cứ để cho người ta “quên” đi.
        Tôi hiểu tình hình, hiểu tâm trạng anh. Phân tích đến cùng cái truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” thì anh Châu gay!
        -Tao lo lắm… Có một luồng dư luận đang suy diễn quy kết tao - Anh nói - Tao nghĩ ra mẹo rồi. Tao sẽ viết nhanh một cuốn tiểu thuyết lấy tên “Mảnh đất tình yêu”, chủ đề ngợi ca quê hương, tư tưởng lành mạnh trong sáng, như tiếng hót của chim sơn ca ca ngợi cuộc sống. Mày in nhanh giúp tao, để đanh bạt dư âm của các truyện ngắn “có vấn đề” kia.
        Anh Châu viết trong một tháng xong. Truyện kết cấu chặt chẽ, ngôn từ đẹp, tư tưởng trong sáng, toát ra tư duy ngợi ca cuộc sống  của tác giả. Tôi cũng giúp được việc in nhanh. Sách ra, anh vui sướng như hất được tảng đá trên vai. Quen được mọi người chú ý, viết ra cái gì là báo chí, các nhà phê bình bình luận, lần này anh Châu đón đợi các bài khen ríu rít “Mảnh đất tình yêu” để át đi dư luận xầm xì về loạt truyện ngắn “cấp tiến”.
Đợi mãi, đợi mãi, chả có ma nào thèm để ý đến “Mảnh đất tình yêu . Tịnh không một lời nhắc đến. Anh Châu ngạc nhiên thật sự. Tôi vẫn là người anh tin tưởng, tâm sự. “Sao thế mày, anh hỏi”.
-        Còn sao nữa… - Tôi mỉm cười.
- Tao hiểu rồi mày ạ - Anh nói – Thôi bây giờ mày viết hộ tao một bài khen cuốn này, để “đánh động” cho thiên hạ biết.
-        Em biết gì mà dám viết về tác phẩm của anh .
- Thôi thế này vậy. Tao sẽ tự viết. Nhưng đứng tên mày. Bài báo ký tên mày.
Bài báo in trên tạp chí “Tác phẩm mới”, nhưng cũng chả ai thèm đọc, chả ai thèm để ý. Trong khi thiên hạ cứ không chịu quên đi các truyện ngắn cho anh nhờ…
        Riêng tôi, rất “khoái chí”, vì có hẳn một nhà văn bậc thầy phải viết bài “hộ” mình, còn mình thản nhiên lĩnh nhuận bút!
        Năm 1983 nhà văn Nguyễn Đình Thi gửi đến Nhà xuất bản Tác phẩm mới bản thảo kịch “Giấc mơ”. Anh Thi giữ chức Tổng thư ký (tức chức danh chủ tịch) Hội Nhà văn tới 30 năm, uy tín của anh là bao trùm. Anh là lãnh đạo phong trào văn học cả nước, là “cầm cân nẩy mực” văn chương.
        Tôi được phân công biên tập cuốn này. Đọc đi đọc lại cả tuần, tôi “vắt óc” viết bản giám định dài. Trích một đoạn: “Giấc mơ chứa đựng trong đó một triết lý về giá trị cuộc sống , về tình thương. Nội dung hàm súc, từng câu từng chữ tâm huyết, ý tứ tiềm tàng. Nó khác hẳn loại kịch nội dung nông cạn, sơ giản một chiều từng thấy. Có thể gọi là một vở kịch hay.
        Về cơ bản, vở kịch mang tinh thần lạc quan. Ở đây là hình ảnh người chiến sĩ chiến đấu vì sự sống, vì tương lai, vì những gì cao đẹp của cuộc đời này. Anh biết giá trị cuộc sống không phải ở quyền uy vinh hiển, ở của cải vật chất. Anh dám chấp nhận hy sinh, và trong thực tế anh đã thiệt thòi, bị mất đi những hạnh phúc đời thường. Nhưng anh là vĩ đại, anh tỏa sáng chân lý. Hình tượng anh chia ánh sáng những ngọn đèn cho các em nhỏ ở cuối rất đẹp. Phải nhìn thẳng vào sự hy sinh đau xót của cuộc đời, không thể dùng lãng quên để cứu con người vượt qua chông gai đời thường. Yêu thương tạo nên nguồn nghị lực không cùng của sự sống! Tôi nhận thức ở hướng chính diện là như vậy… Nhưng như thế không phải là tôi không băn khoăn khi đứng ở góc độ biên tập (thời điểm này là 1983). Cái ý tứ trong kịch về quyền uy đại đế, hồn ma, hạt bụi… có thể bị suy diễn những ẩn ý không lợi nào chăng. Và hình tượng người anh hùng ở đây có cô đơn không? Người anh hùng  thân thể tật nguyền, kỷ niệm quên lãng, hạnh phúc tan vỡ… Anh sống với khóm tre xanh, và những ngọn đèn ông sao…”.
        Sau đó, Lê Minh Khuê viết giám định. Chúng tôi ra sức phân tích tác phẩm. Cuối cùng Tổng Biên tập, và Giám đốc đều đọc, nhưng không dám có quyết định. In một cuốn sách lúc đó quan trọng như thế đấy..
           . Tôi được lệnh đem bản thảo lên một đồng chí có quyền cao hơn xin ý kiến. Đồng chí lãnh đạo cũng viết giám định rất dài khẳng định đây là vở kịch rất tốt. Tuy nhiên đồng chí e ngại những đoạn viết về Cờlêôpác, Tần Thủy Hoàng… sẽ có người nghĩ là tác giả đã đi quá xa…
        Cuối giám định, ông viết: “Theo tôi kịch bản này có thể in được, còn quyền quyết định in hay không thuộc về Nhà xuất bản. Cần góp ý với tác giả xem lại miêu tả “sự lú lẫn” của nhân vật. Nó vừa hợp lý vừa không hợp lý v.v… và v.v…
        Người biên tập chính của đội hình biên tập những cuốn sách đặc biệt giống như anh tiểu đội trưởng trong trận đánh, phải xông lên hàng đầu, và có thể phải “hy sinh” một mình anh ta.
        “Giấc mơ” sao đó đã được ra đời. Cũng là một cái mốc về sự khai thông nào đó.
        Sau đấy, anh Thi còn gửi đến vở kịch “Tiếng sóng”, quá trình biên tập không gian nan bằng, nhưng cũng phải bốn người biên tập, bốn bản giám định và một cuộc họp toàn thể để ra nghị quyết…
        Từ năm 1986, nhiều tác phẩm văn nghệ đổi mới, như mùa hoa nở rộ. Nhưng phải nói trước đó nó đã được hoài thai âm thầm, mà Nhà xuất bản Tác phẩm mới lúc đó đã góp sức vun xới ươm mầm.
        Tác phẩm thật sự “nổ bung” là tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lu. Người biên tập chính là anh Trần Vũ Mai. “Thời xa vắng” thật sự là tác phẩm điển hình mở màn thời văn nghệ đổi mới. Nhiều nhà văn làm việc ở các Nhà xuất bản khác đều nói :chỉ  Nhà xuất bản Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam mới được trao “sứ mệnh” cắm cái mốc son này. Cuốn sách làm thay đổi tư duy cũ của nhiều cây bút. Họ hướng về Nhà xuất bản Tác Phẩm mới. Nhà xuất bản có thương hiệu mạnh hẳn lên. Cuốn sách được dịch ra quốc tế, và Lê Lựu là nhà văn mở đầu đi giao lưu văn hóa ở Hoa Kỳ.
        Chính sự vang dội mở màn của “Thời xa vắng” đã mở đường cho một số tác phẩm đổi mới sau này dễ dàng ra đời. Tiêu biểu nhất là tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh. Nếu “Nỗi buồn chiến tranh” bị nhà xuất bản chùng trình, xếp lại, nghe ngóng, chờ đợi vài ba năm sau mói cho in, thì chưa chắc nó đã được đón nhận như đã diễn ra trong thực tế.
        Hội nhà văn Việt Nam đã trao giải thưởng cuốn này.Có người trách tôi : Tên sách Nỗi buồn chiến tranh hay thế tại sao khi in anh lại đổi thành tên sáo rỗng “Thân phận của tình yêu”.
        Khi nhận bản thảo của Bảo Ninh, tôi đọc, bị cuốn hút ngay, nhưng không phải không có phần lo lắng, thậm chí quá lo lắng. Tôi có thể trả lại bản thảo này, như vậy nhẹ nhàng, thanh thản cho tôi. Nhưng trách nhiệm không cho phép tôi làm việc đấy. Tôi nói: Anh nên đổi một nhan đề khác, cho “mềm” hơn, “dễ lọt” hơn. Bảo Ninh về nghĩ năm nhan đề mới, trong đó có nhan đề “Thân phận của tình yêu”. Và tôi đã chọn tên này. Đồng thời, tôi cũng phải đề nghị Bảo Ninh sửa chữa, cắt bỏ một số chi tiết. Nhà văn nào cũng “ghét” nhất việc anh Biên tập góp ý, sửa chữa, cắt bỏ. Anh biên tập không hiểu tác phẩm không thể góp ý xằng. Anh Nguyễn Kiên là người đọc duyệt “Nỗi buồn chiến tranh”, ý kiến của anh trùng hợp với ý kiến của tôi. Và lúc này trong không khí đổi mới mạnh mẽ, nhà xuất bản đã cho ấn hành.        
        Mấy năm sau nhà xuất bản còn phải xử lý nhiều bản thảo “gay cấn” hơn thế nhiều. Tùy, có cuốn in, nhưng cũng gác lại một số. Lúc đó, là người có chức danh “chịu trách nhiệm xuất bản” ghi ở trang xi nhê, tôi phải quyết đoán trong nhiều trường hợp khó khăn, vừa phải trong quỹ đạo đổi mới, nhưng đồng thời vừa phải giữ cho Nhà xuất bản tồn tại yên ổn. Nghề xuất bản một thời với tôi thật chẳng dễ dàng gì…
                                                                Đại Yên 5- 2013



 vvvvvv

MẤT ĐẤT

Truyện ngắn Nguyễn Phan Hách
      
Ông Khắc ngồi trong trạm gác cổng nhà máy Hóa chất Khu công nghiệp Hoài Thuận nhìn ra ngoài. Trước mặt là khoảnh đất rải nhựa trống trải, với chiếc ba-ri-e từng khúc sơn trắng đỏ. Khoảnh đất ấy ngày xưa chính là ba sào ruộng của ông. Ba sào. Một ngàn mét vuông đất. Lúa hai vụ chín vàng…
       Ông Khắc như người mộng du. Thỉnh thoảng lại nhắm mắt chập chờn nhìn thấy những bông lúahư ảo dập dờn trong nắng. Rất nhanh, tiếng còi xe xóa tan bóng hình, và ông “gác cổng” lật đật chạy ra nâng thanh ba-ri-e. Tiếng xe tải chở vật liệu hóa chất mùi khét lẹt, ầm ầm lăn bánh lên ký ức mơ hồ khắc khoải. Ông thở dài. Co rụt cổ lại trong cái trạm gác nhôm kính kín mít, như chỗ trú ngụ cuối cùng của mình trên mặt đất này.
*  *  *
*  *
*
Mười mấy năm xưa, ông nông dân Phạm Văn Khắc sống trong ngôi nhà thơ mộng, ba gian gỗ xoan lợp ngói, giữa mảnh vườn cổ thụ và ao bèo xanh biếc. Cảnh quê ấm cúng, vạt rau bốn mùa su hào cải bắp rau đay rau dền mơn mởn. Đàn gà túc mồi gọi con, bồ câu xập xòe mái ngói, cún vàng nhởn nhơ ngoài ngõ.
Hai vợ chồng làm khỏe như thần đồng, cấy cầy trên mấy sào ruộng nhất đẳng điền, vụ nào thóc cũng đầy bồ. Gạo tám gạo dự đầu mùa thổi cơm thơm lừng, hạt dẻo tan trên lưỡi cái dư vị ngọt ngào của người tận hưởng thành quả lao động của mình. Đêm trăng, hai vợ chồng ngồi trên chõng  đầu sân, chồng say điếu thuốc lào, vợ say miếng trầu, bàn chuyện làm ăn. Bè rau muống, chum nước cua, vợ chồng ông Khắc tương cà gia bản tích cóp căn cơ, nuôi con ăn học. Nhiều đêm thanh vắng, hai vợ chồng ôm nhau, ngây ngất nghe tiếng sương rơi tầu chuối, tiếng cuốc khản giọng gọi hè. Cánh tay trần tròn lẳn mát rượi của vợ, cánh tay lực điền vâm váp của chồng… Hạnh phúc quê kiểng chất phát đắm say…
Làng muôn đời thanh bình. Bờ tre  cò về làm tổ. Chiều hè, trời xanh, lơ lửng cánh diều hâu bay lượn. Làng hẻo lánh, phố  huyện xa ngái, đêm khuya, tiếng còi tàu xe lửa vọng về gợi cảm giác bâng khuâng.
Quê Hoài Thuận của ông Khắc từ bao đời là như thế. Phố huyện đã là xa nhất, vậy mà rồi một buổi bừng lên cái tin: đường cao tốc, đường vành đai quốc gia sẽ chạy sạt qua đầu làng.
Trời ơi, ngàn đời nay làng chỉ có một con đường sống trâu lầy lội lên huyện. Lý trưởng xưa lên hầu quan huyện quần trắng xếch quá gối, nách cắp dép Chi long, lên đến đường cái quan mới rửa chân buông quần, xỏ dép. Bọn Tây xưa đi càn , thấy lối xuống làng lầy lội cũng ngại,  bỏ qua.
Vậy mà bây giờ sắp có đường cao tốc rẹt qua đầu làng. Sướng biết chừng nào...
Cọc tiêu cắm lên. Những gia đình có nhà ruộng ven đường, ngất ngây, tưởng phen này quờ thấy vàng dưới lưng. Sẽ xây cửa hàng cửa hiệu, nhà bốn năm tầng làm khách sạn, quán ăn. Thôi, rửa sạch chân tay váng bùn phèn chua, sắm váy ngắn cho con gái đứng bán hàng. Làng sẽ thành phố, mà phố lớn, đại lộ giao thông, đâu thèm phố ngõ ngách…
Vài năm, đường cao tốc hoàn thành, rộng mênh mông bẩy tám làn xe. Nhưng kìa, cái bọn “cao tốc” “khoảnh” kinh người. Chúng rào hai bên đường lại bằng cột bê tông luồn thanh sắt ngang, không cho người làng được đặt chân lên. Tất cả, trơ mắt ếch ra nhìn. Đất ruộng làng “ông”, giờ thành đường mà “mày” không cho “ông” đi. Muốn đi phải xuôi tít về Hà Nội, lên cầu ở đó, rồi chạy thẳng hàng trăm cây số Lạng Sơn ,qua làng chỉ được nhìn, không được rẽ về.
Giấc mộng “đô thị hóa”, làm nhà hai bên đường vỡ tan tành. Kết quả chỉ còn là tiếng côngtenơ đêm khuya chạy qua rít lên mất ngủ…
Cả làng Hoài Thuận tiu nghỉu.
Nhưng không, chớ vội bi quan. Một năm sau ngày cao tốc hoàn thành, người ta về đây đặt giá mua đất cả cánh đồng bên đường, làm " Khu công nghiệp”.
Bọn “Công nghiệp” có sức mạnh, được rỡ một đoạn rào chắn, trích ngang một lối rẽ, rồi làm đường lớn về làng. Tuyệt vời, có thế chứ…
Toàn bộ ruộng nhà ông Khắc nằm trong Khu công nghiệp, được tiền đền bù cao nhất làng. Tiền lẻ, mệnh giá thấp, đầy một bị. Đêm hai vợ chồng ngồi đếm, ngỡ như mơ, sung sướng ngây dại cả người.
Từ cổ chí kim, từ thuở khai thiên lập địa, không bao giờ lại có cái ngày kỳ diệu như ở làng Hoài Thuận. Nhà nào cũng được một bọc tiền, nhà nào vợ chồng cũng ngồi giạng sẻ đếm tiền.
Chỉ trong vòng vài tháng, các nhà đua nhau mua xe máy, xây nhà gác hình ống, mái bằng. Cả làng thành một đại công trường. Thợ xây các nơi đổ về thi công. Xe chở  cát, chở gạch ùn ùn… Các bác nông dân gặp nhau hớn hở:
- Nhà bác được  bao nhiêu?
- Một tỷ- Còn nhà bác?
- 500 triệu.
500 triệu, một tỷ, tiền xướng lên kêu xoang xoảng. Cách đây vài tháng họ vẫn còn bòn nhặt bán buồng chuối, mớ rau, con gà, hầu bao chỉ là tiền chục, tiền trăm. Vậy mà bây giờ tiền triệu, tiền tỷ.
       Khu công nghiệp liên hợp xây dựng cũng nhanh tương đương với tốc độ “nhà gác hóa” của làng. Kèo cột sắt, mái tôn dựng lên   to rộng mênh mông. Máy móc chuyển về lắp đặt, vận hành rung chuyển cả một vùng.
       Ông Khắc đi ra đi vào như người mộng du, bên bà vợ đi ra đi vào cũng như người mơ ngủ. Hai vợ chồng luôn mỉm cười nhìn nhau. Họ lấy nhau, đêm vợ chồng mới cưới không có chiếc màn che muỗi, không có tấm chăn bông. Họ được bố mẹ cho một thúng thóc tẻ, một đôi lợn con, ra ở riêng trong túp lều gianh. Hai vợ chồng làm bán lưng cho giờ, bán mặt cho đất, dần dần gây dựng được cơ ngơi. Ngày giải tán Hợp tác xã, ngày vui lịch sử ngàn năm có một của làng, họ được chia vài sào ruộng (trên danh nghĩa nhận khoán). Từ đó lúc nào thóc cũng đầy bồ, gà đầy sân. Cuộc sống tưởng còn mong gì hơn thế nữa…
       Vậy mà hôm nay “cuộc sống phát triển”, tiền tỷ có trong tay, xuất hiện nhu cầu tính toán làm giầu…
       Ông Khắc không xây nhà gác mà bán phắt ngôi nhà trong làng, lên thị trấn mua một căn “mặt phố” chia hai ngăn, một bên cho vợ bán hàng hoa quả, một bên cho con gái mở tiệm “cắt tóc gội đầu”. Còn ông, trẻ trung yêu đời, 50 tuổi khỏe khoắn, đi học lái xe, mua chiếc Kia morning làm “dịch vụ”. Ai cần chở người nhà đi bệnh viện, hoặc  đi đâu ra thành phố, gọi ông, có ngay. Vi vu một quệt được một hai trăm chẳng khó nhọc gì.  Cảnh nhà khá ổn định.
       Toàn gia ông Khắc đã theo đúng chủ trương khoa học chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang làm dịch vụ. Từ nay vĩnh viễn chia tay với cảnh mùa đông  dầm bùn giá lạnh, mùa hè phơi  nắng chang chang. Nghĩ lại cái cảnh hấm hấm ha hả với bồ thóc đầy ngày xưa mà buồn cười…
       Nhờ trời, mấy năm đầu cửa hàng hoa quả lê táo Trung Quốc của bà Khắc hái ra tiền. Còn cửa hàng “cắt tóc gội đầu” cũng tấp nập. Các cô gái không còn chịu đun nước bồ kết  nữa, mà giờ nằm ườn ra ghế cho thợ vò đầu bằng dầu thơm có nhãn hiệu. Con gái ông Khắc mỏng mày hay hạt, chuyện trò có duyên, cửa hàng đông khách. Con trai cũng thích vào gội đầu, mát xa mặt. Được bàn tay con gái nâng niu, ai chả thích.
       Ông Khắc mỗi tuần đôi ba lần đưa khách ra Hà Nội. Một lần dừng chân trước một con phố oái oăm. Hai bên hè, các cô gái phấn son rực rỡ, mặc áo hai dây, hở nách, hở vai trần trắng nõn, gọi “anh vào thư giãn”. Đỗ xe bên đường, ông thử bước vào. Một cô gái cầm tay dắt vào phòng nhỏ ngăn ô bằng những chiếc mành. Mỗi ô, từng bàn, từng đôi đang ngồi thư giãn thật thú vị. Khách vừa uống cà phê, ăn bánh ngọt, vừa sờ vú, sờ bụng tiếp viên. Thư giãn thế này thì chả còn  mệt mỏi, căng thẳng gì, bao stress bay biến.
       Chẳng ai dậy , ông Khắc thực hành tức thì. Bàn tay nông dân sần sùi chỉ quen làn da vợ già, lần đầu được sờ da phấn con gái trẻ, sướng thật. Thư giãn một tiếng, mất tiền một cuốc tắcxi. Không đáng bao nhiêu. Quen thung thổ, lần sau ông Khắc “nâng cấp” thư giãn hơn: vào nhà nghỉ!
        Nhà nghỉ là cái gì. Ai ghĩ ra cái tên ấy nhỉ? Hình như xưa Công đoàn hay có các nhà nghỉ dưỡng cho công nhân đến ở vài ngày. Mượn cái tên lương thiện này, cuộc sống hiện đại này giờ đẻ nó ra hàng loạt. Vậy cho nên ông Khắc đi “nghỉ” một cái xem sao. Vừa bước vào, còn đang mải ngắm bức tranh vẽ cô gái Thái Lan mặc váy, cởi trần, vai đỡ vò gốm, thì đã thấy một cô gái thật, quần soóc, đùi trắng bước vào.
-        Chào anh!
Từ người cô, tỏa ra mùi phấn son dễ chịu. Cô ôm lấy ông. Vòng tay êm dịu. Thân người con gái sao mà mềm mại, thơm tho. Ông Khắc ghì riết lấy. Cách đây mấy chục năm, chàng trai Khắc lấy vợ, và cũng được ôm tấm thân cô vợ trẻ nõn nà có phấn. Nhưng lúc đó Khắc không ý thức được cái quý giá vô hạn ấy. Cứ cho là đương nhiên được hưởng. Đương nhiên…. Người vợ rồi đẻ con, thời gian xâm thực, tấm thân nhão ra, vú xệ xuống lõng thõng, da bụng sau kỳ mang thai nứt căng, lên sẹo, như sọc dưa bở. Bàn tay đồng áng dần sần sùi. Đôi chân dầm bùn đồng chiêm váng phèn vàng khè… Và Khắc cứ quen dần như thế. Cũng không ý thức được sự tàn tạ ấy. Chỉ thấy vợ già, phải như thế. Và ta cũng già, cũng còn đâu cơ bắp cuồn cuộn. Vợ chồng cùng già. Đồng bộ…
       Bẵng đi bao nhiêu năm, vậy mà bây giờ “lò lửa” lại bùng lên dữ dội. Dữ dội hơn cả thời còn trẻ. Khao khát làn da cô gái trẻ hơn tất cả mọi thứ trên đời. Trong vòng tay ông Khắc đây bây giờ là một cô gái trẻ như thế. Sung sướng đến tuyệt đỉnh. Đến bây giờ mới thấy con gái trẻ là ngàn vàng. Phải nâng niu và tận hưởng.
“Cuộc tình” như dung nham núi lửa. Ngất ngây tột đột. Bây giờ mới thấy thế nào là lạc thú trần gian. Mà tiền mất cũng chỉ là vài cuốc tắcxi.
“Tài xế Khắc” đắm chìm trong nhục cảm thể xác một thời gian “ăn bánh trả tiền”, quệt miệng ráo hoảnh rồi đi. Nhưng rồi có một lần ông gặp một “cô gái bán hoa” có tâm trạng. Mặt cô không đẹp, nhưng da thịt nõn nà khác thường. Trắng như ngó cần. Trông đã sướng. Cô kể cảnh nhà, đã có chồng. Thằng chồng chẳng ra gì, và hai người bỏ nhau. Cô bơ vơ, bước đường cùng phải vào đây, làm tạm “nghề này” lấy ít vốn, rồi sau này mở cửa hàng nhỏ để sống.
Ông Khắc mê đắm làn da như trăng rằm của cô, sờ vào mát rượi. Cô không đỏng đảnh, đong đưa, mà có gì hiền dịu. Tình yêu thật sự bừng lên trong lòng già. Ông thương cô bé. Thúy (tên cô) tỏ ý cũng chỉ mong có một chỗ dựa. Tình yêu không có tuổi – cô nói…
Chỉ trong một thời gian ngắn, ông Khắc đã thu xếp cho cô ổn thỏa. Thuê một căn hộ nhỏ, sắm đủ giường nệm, bàn tủ , ti vi… Ông nói: Thôi, từ nay em cứ ở đây, anh chu cấp tiền ăn và tiền tiêu vặt hàng tháng. Không phải làm gì hết. Nhất là tuyệt đối không “tiếp” một ai nữa.
Thúy chắn vén “gia đình” tươm tất. Cách một vài ngày, ông Khắc lại phóng chiếc Kia morning đến đấy, ngủ lại, ăn uống, vui chơi hú hí. Thỉnh thoảng sẵn ô tô, ông đưa Thúy đi du lịch Khoang Xanh, Thác Đa, Ao Vua, các chùa chiền xứ Bắc…, Siêu thị Big C, Metro… Quà ông cho Thúy thỉnh thoảng chiếc nhẫn, vòng, dây chuyền. Sau một năm “bao gái”, tổng cộng ông Khắc thấy mất đứt nửa số tiền vàng dự trữ. Bù lại, ông tích cực “chạy xe” như điên để kiếm tiền, cung phụng cho cô.
       Những tháng năm ngây ngất với ông Khắc. Chưa bao giờ sung sướng như thế. Vụng trộm, giấu giếm, có cái ma lực của nó.
       Bà Khắc thời gian đầu không để ý, vì mải mê bán hàng. Khi kiếm ra tiền, người ta say. Ngồi giạng sẻ ở nhà, lê táo từng thùng có người chở đến tận nhà, tiền nong chửa phải trả. Mua một, bán lãi gấp đôi. Cuối tháng “người giao hàng” mới đến lấy tiền. Nhẩm tính ngày nào cũng có lãi. Nhàn hạ, mưa không đến mặt, nắng không đến đầu, bà bắt đầu béo nuột ra, tính tình đổi thay, nhu cầu cuộc sống cao, không ăn mắm mút dòi như ngày xưa nữa. Bà bắt đầu sợ ngọt, sợ mỡ. Cũng “cảnh giả” chọn thịt gà quê nuôi bằng thóc, ngô, chứ không ăn gà nuôi cám công nghiệp. Cũng kén chọn gạo tám đầu mùa, gạo hương Thái Lan, chứ cơm thổi gạo “mộc tuyền” là không nuốt nổi.
Bà Khắc thấy chồng cứ đi suốt ngày, có khi vắng nhà cả tuần lại hay đỏm dáng đầu xức nước hoa, bắt đầu sinh nghi. Khi thấy chồng cả tháng không “động” đến mình, bà bắt đầu đi rình. Bà bắt quả tang chồng đang đi du lịch với bồ trẻ ở một Resort. Đau đớn, chết lặng, căm hờn. Đất dưới chân bà như sụt. Trời trên đầu bà như vỡ tan. Người bà bồng bềnh như cái bóng ma. Bà khóc lóc, gào thét, đập phá chửi rủa, lăn lộn. Tất cả vô ích. Làm sao mà chia cắt ông Khắc với cô bồ.
       Bà Khắc cay đắng nhớ lại ngày xưa. Hai vợ chồng là một, chồng là tất cả của vợ, vợ là tất cả của chồng. Củ khoai bẻ nửa cùng ăn, tấm chăn cùng đắp. Chồng hậm hụi làm vì vợ, vợ hậm hụi làm vì chồng. Ngày, chồng cày vợ cấy trên đồng, tối về chồng ôm ấp vợ, vợ ôm ấp chồng. Chiếc chăn bông mới ấm nồng. Mùi tóc vợ gội lá hương nhu, mùi mồ hôi đàn ông cay hắc, mùi mồ hôi đàn bà ngậy thơm...
       Cuộc đời tưởng vĩnh viễn là thế. Ai ngờ giờ như một nửa cơ thể của mình đã tách ra, không phải là của mình nữa,tiếc xót ngẩn ngơ. Lòng dạ bọn đàn ông khốn nạn, không ai học được chữ ngờ.
 Thằng đàn ông... Ta với thằng ấy ngày xưa xa lạ hoàn toàn. Cưới nhau một cái là xương liền xương, thịt liền thịt, thương yêu không biết thế nào là thương yêu. “Mẹ cha bú mớm nâng niu. Tội trời đành chịu, không yêu bằng chồng…”. Thằng đàn ông, nó là cái gì. Bây giờ nó giết ta còn hơn bằng dao bằng kiếm. Mẹ bố mày, mày giết “bà” rồi, mày làm “bà” đau khổ thế này.
       Bà Khắc bị trầm cảm, ngẩn ngơ một thời gian. Chẳng muốn làm ăn gì nữa. Cửa hàng bỏ bê. Thỉnh thoảng lại khóc lóc một mình. Đêm không ngủ, bà đấm tay vào tường uỳnh uỳnh làm hàng xóm sợ mất vía.
       Ông Khắc trơ tráo nói với Bà: Ngày xưa các cụ còn lấy hai vợ, ba vợ thì đã sao. Bà Cả, chủ động đi tìm vợ bé cho chồng. Thế mới là phụ nữ chứ. Thương chồng  như thế chứ. Bà nên nhớ: một là bà có tôi kèm theo cô gái kia, hai là bà mất hết, không có cả tôi nữa. Tùy bà. Tôi không thể rời xa cô ấy được.
       Ông Khắc bỏ đi vài tháng. Trở về thấy vợ dần dần có gì “biến chuyển”. Từ vật vã sang trơ lì,  nhơn nhơn thản nhiên, mặc xác ông. Ông mừng vui, tưởng bà đã “giác ngộ”, chấp nhận. Ai ngờ sự đời diễn biến theo một hướng khác...
Bà Khắc sau một năm đau đớn, giật mình nhận ra: Đời đến mức khốn nạn thế này thì ta còn cần gì nữa. Bà đang ở tuổi hồi xuân, béo tốt nõn nà, tiền có trong tay, vậy sao bà phải khổ. Ông ăn chả thì bà ăn nem, cổ nhân đã dậy, tội đếch gì bà không nghe.
Lão lái xe tải nhẹ chuyên chuyển hàng lê táo Trung Quốc cho các đại lý, người tráng kiện, tính tình vui vẻ, lọt vào tầm ngắm của bà. Chỉ vài câu đong đưa, liếc mắt, hai người đã “hiểu” nhau.
Tuổi này còn cái gì để giữ. “Thứ này” hàng năm nay đã bị “thằng phản bội” bỏ mốc, phải lấy lại giá trị cho nó. Nó vẫn là vàng chứ có phải đất đâu. Bà phải trả thù thằng phản bội, phải lấy “cái của nó” mà nó khinh rẻ, đem “cho” người khác...
 Một buổi kia, cái rèm hoa trong cửa hàng buông xuống, và phía sau rèm, đôi vú già đang săn lại hồi xuân đã rung lên dưới bàn tay cầm vô lăng xù xì.
Tức lắm, uất lắm. bây giờ thì tao chuyển cái tức cái uất cho mày, thằng chồng bội bạc ham gái trẻ. Cho mày hộc máu ra. Mày để tao “chết đói”, tội gì tao không ăn vụng...
Gã lái xe một tuần đem lê táo đến một lần, được “nhận” (cũng đồng nghĩa là cho) niềm vui sướng tuyệt đỉnh sau bức rèm hoa.
Ông Khắc nhận được "thông tin" chẳng lành, như con sư tử gầm lên. Nhưng có kết quả gì. Mụ ấy cũng đã chẳng như “con sư tử gầm lên”, song có làm gì được ta. Bạo lực có lúc chả ăn thua gì. Dần cho mụ một trận? Mụ sẽ la lên cho cả thị trấn biết “nguyên nhân”. Chẳng có lợi gì. Thôi, đổ vỡ tất cả rồi. Không đường cứ vãn. Nhưng “đổ vỡ” để “phát triển”. Ta không thể bỏ cô bồ trẻ. “Tái cấu trúc”. Thôi cùng để nhau yên là hay nhất…

*  *  *
*  *
*
“Hình thái gia đình” nhà ông Khắc ổn định được hai năm, sau khi “tái cấu trúc”. Ông Khắc yên lòng, không khéo đây là “mô hình” mới cũng nên.
       Vậy mà…
Một hôm, ông Khắc đi lơ vơ trong phố. Bây giờ ông đã là dân thành thị chính hiệu, tức là đã “thành tinh thành cáo”. Quen mùi thịt da con gái trẻ, thông ngõ tỏ tường “siêu thị nhà nghỉ”, ông rẽ vào một cái mang tên mơ mộng “Hoa Lan”. Nói chứ “Mới Lạ” là một yếu tố hấp dẫn kỳ diệu. Thúy đã quá quen thuộc rồi. Một cô gái lạ xem thế nào. Một vài cuốc tắcxi là đủ, khó gì…
       Ông vào phòng đợi. Chủ nhà bảo: Có một “tiếp viên” đẹp. Mười phút nữa sẽ có mặt.
       Ông Khắc chuẩn bị tư thế. Bồn chồn, hồi hộp ra phết. Thú vị nhất trên đời là giây phút cánh cửa mở, và một cô gái mới lạ xuất hiện. Thật như vào vườn hái một bông hoa, bắt một cánh bướm. Ông Khắc đã trải nghiệm cảm giác này.
       Tiếng chân nhè nhẹ ngoài hành lang. Đây rồi… Ông Khắc vuốt lại tóc. Xịch, cánh cửa mở, cả ông Khắc cùng cô gái kêu “ối” lên, và ngã bổ chửng. Bởi cô gái mới lạ đó chính là… Thúy!
       Đất dưới chân ông Khắc xụp đổ. Ông gặp Thúy lần này, đúng như lần đầu tiên gặp, không gian bối cảnh y hệt. Chỉ có điều lần trước vui thích bao nhiêu thì lần này đau đớn bấy nhiêu… Bởi ông đã thật lòng yêu Thúy.
       Bốp, một cái tát mạnh. Thúy bưng má ngồi xuống giường. Gương mặt dịu dàng mọi hôm, vụt đanh lại trước “bạo lực”:
-        Ông có quyền gì mà đánh tôi?
-        Con đĩ – ông Khắc gầm lên.
-        Thế ông là gì?
-        Tao đã nhầm.
- Tiền hàng tháng của ông có đủ cho tôi mua son phấn và quần áo thời trang không? Ông đã đủ tiền mua căn hộ cho tôi chưa, hay vẫn là nhà thuê trọ. Thế ông đã có xe máy SH cho tôi đi chưa. Tôi trẻ trung xinh đẹp thế này lại không biết tự kiếm tiền nâng cao cuộc sống của mình ư?
- Hóa ra lâu nay, những buổi cô vắng nhà, những ngày cô bảo là  đi làm thêm,  chụp ảnh bên mẫu mã hàng hóa quảng cáo, chính là thế này ư… Cô là đồ lửa dối…
- Hay ông mới chính là đồ lừa dối. Những lời hứa về nhà cửa, xe pháo.
- Bao nhiêu cho đủ với lòng tham của cô.
- Đúng. Bao nhiêu cũng không đủ với khát vọng của con người.
- Tôi đã bỏ hết vợ con, nhà cửa, vì cô… Thế mà cô.
- Thế ông đã ly dị vợ để chính thức cưới tôi chưa. Hay chúng ta chỉ là bồ bịch. Chỉ trông vào ông, thì tôi chết đói trong xó nhà trọ .
- Bây giờ tôi mới hiểu chân lý: Gái bán hoa không bao giờ có tình yêu. Không bao giờ.
- Có đấy. Gái bán hoa có tình yêu đấy, nhưng chỉ với người hợp cảnh, chứ không với người coi gái bán hoa chỉ là đồ chơi thêm nếm.
- Thôi, có đường có nẻo thì bước .
- Tất nhiên. Ông tưởng không có tiền của ông, tôi chết đói đấy hẳn. Tôi cũng đã muốn rời xa ông từ lâu. Tuy nhiên, nhân đây tôi muốn nói dù sao ông cũng là người tốt, chúng ta đã bồ bịch với nhau một thời gian dài. Ông khá tử tế. Vậy tôi xin  nói :Ông vẫn có tôi  như thời gian  qua, nhưng tôi không  chỉ có mình ông, vì ông không đủ chu cấp cung phụng cho tôi.
“Ông vẫn có tôi” – vô hình trung Thúy lặp lại đúng câu nói của ông Khắc với bà vợ: “Bà vẫn có tôi…”. Nhưng . Chữ nhưng kèm theo sao mà khắc nghiệt…
Từ nhà nghỉ, ông Khắc về thẳng nhà Thúy trọ, lấy một ít đồ đạc của mình rồi phóng xe đi thẳng. Xe qua cầu “Chương Dương”. Đi đâu nhỉ mà qua cầu. Không biết, cứ phải qua cầu cái đã, qua sông cái đã, con sông là vạch ngăn cách. Tới ngã ba bùng binh Gia Lâm, ông lượn một vòng, hai vòng, rồi ba vòng. Ngã ba. Lối này về thị trấn nhà ông. Lối kia về xứ Bắc trung du xa tắp. Tại một quả đồi hoang Yên Thế, ông có một người bạn lập trang trại. Đồi mênh mông, suối chảy, rừng vải thiều, hồ cá, trại nuôi gà, nuôi bò ... lúc nào cũng sẵn sàng  mời ông đến chơi.
Lượn đến vòng thứ sáu  bùng binh  thì ông  quyết định. Rẽ đường Năm, về nhà với quán bán hàng lê táo của vợ, khác gì thằng thua trận đầu hàng. Không. Ông sẽ về trang trại, nương náu lúc cô đơn…
Người bạn trang trại cho ông Khắc ở riêng một mình trong ngôi nhà lá bên hồ cá, cách biệt. Núi rừng trùng điệp xung quanh, nơi này xưa từng ấp từng làng đều mọc lên một ông “Đề”, dưới quyền cao nhất “Đại Đề Thám”, chọc trời khuấy nước, chẳng biết sợ thằng nào. Thiên nhiên hoang dã, con người tự do, bây giờ đến  đây, ông Khắc còn cảm thấy không khí cách biệt cuộc đời. Ấm trà buổi sáng, cuộc rượu đêm khuya, ông  một mình lang thang bên suối, bên hồ, trong rừng, ngẫm nghĩ sự đời...
Sao ta ngây thơ trung thực, chân thành quá. Ai đời đi yêu thật sự một cô cave. Nhưng ta có phải là người trung thực, chân thành không? Trung thực sao lại bỏ hết vợ con từ thuở tao khang. Chân thành sao lại còn dối Thúy, vào nhà nghỉ tìm gái lạ. Dưới mắt vợ ta, và Thúy thì ta là kẻ giả dối, bội bạc, lừa đảo bậc nhất. Còn dưới mắt ta, thì vợ ta và Thúy cũng dối gian  tương đương như thế. Kẻ cắp bà già gặp nhau. Tám lạng, nửa cân, không hơn không kém. Đời ơi là đời!
Ông Khắc bỗng thấy thèm không gian sống của bạn. Hoang vu, vắng vẻ, trong lành, lương thiện. Ngày ngày vui với đàn gà, ao cá, vườn cây, giầu có chẳng kém ai. Chin hót ban mai, trăng khuya hồ nước, nắng lọc qua tàng cây. Thật thanh thản.
Ngày xưa ta cũng có ngôi nhà thanh bình, mảnh vườn, ao bèo, và những sào ruộng đủ để sống cuộc đời thanh nhàn. Gà trong chuồng, cá dưới ao, quả trong vườn, mùa nào thức nấy. Ta cũng có người vợ thủy chung, chân chỉ hạt bột, thương yêu ta hết lòng. Sao mà bây giờ ta mất hết, mất vợ, mất nhà, mất quê.
Một tháng trôi qua…
Bà Khắc nghe ngóng thấy chồng không còn ở với “con đĩ” trên thành phố nữa, mà đã bỏ vào “rừng xanh núi đỏ” rồi thì cũng lập tức cự tuyệt “người tình bất đắc dĩ” của mình. Bà sai con gái đi tìm bố về. Ở nhờ trang trại mãi cũng chán, ngẫm nghĩ sự đời đã đủ, ông Khắc thấy không còn con đường nào khác là phải trở về. Sượng sùng, lầm lì như người câm cả ngày không nói. Bà Khắc chăm sóc chồng, giúp ông vượt qua cơn sốc. Không ai dám thuê “ông tài xế tâm thần dở” này chở mình đi đâu nữa. Sự suy sụp tinh thần cũng làm ông tự thấy cũng không còn dám cầm vô lăng. Tai nạn có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Bà và cô con gái ông Khắc dù sao vẫn còn tỉnh táo hơn, cứu vãn tình hình. Bán chiếc Kia morning lấy món tiền làm vốn, nghĩ chuyện làm ăn khác. Bởi họa vô đơn chí, cửa hàng hoa quả của Bà, dạo này ế xưng ế xỉa. Tất cả các cửa hàng lê táo Trung Quốc ngoài thị trấn đều ế như thế. Vì người ta phát hiện ra lê táo  ngâm tẩm thuốc bảo quản độc đến mức để trên ban thờ cả tháng vẫn tươi không thối, chuột đói  chạy qua cũng không dám ăn.
Bà Khắc đóng cửa cửa hàng. Phút chốc cả ông lẫn bà đều lâm vào cảnh thất nghiệp. Gượng gùng hàn gắn, hai ông bà nhìn nhau, bỗng cùng luyến tiếc ảnh hình vườn cây, ao cá, cánh đồng quê thanh bình thuở trước.  
Lạ thay cho những cơn sốc, nó có thể đánh  quỵ con người trong thời gian ngắn. Có người bỗng trở thành rút rát suốt ngày ru rú trong nhà không giám gặp ai. Có người đang là cán bộ tỉnh suốt đời lên hội nghị rao giảng, bỗng trở thành ấp úng ngắc ngứ, trông thấy cái bục hội trường là sợ. Và như ông Khắc “tài xế tắcxi”, giờ trông thấy ô tô vùn vụt qua đường mà hãi.
Có nghề gì cho ông Khắc bây giờ không? Chỉ có trồng cây, cấy lúa, nuôi lợn gà là thanh thản nhất. Nhưng ông còn đâu ruộng đâu nhà? Một buổi kia, ông Khắc lững thững qua cổng nhà máy Hóa chất của Khu công nghiệp. Mùi gì trong đó bay ra khó chịu. Nhà máy rộng lớn. Tiếng máy chạy ầm ầm. Ông nhận ra khu cổng nhà máy chính xưa là nơi ba sào ruộng của mình. Cả đời ông đã đổ mồ hôi trên mảnh đất này. Bây giờ thì chỉ là khoảng sân tráng nhựa phẳng lỳ, với chiếc ba-ri-e xanh đỏ nâng lên hạ xuống. Ông  đứng trân trân, nhìn thấy chập chờn trong nắng những bông lúa vàng .
Ngày hôm sau, ông lại ra đúng chỗ ấy. Lại nhìn thấy những bông lúa  rõ  hơn. Và ngày thứ ba ,cũng như thế. Đờ  đẫn, lẩn thẩn, ông cười hiền lành một mình. Những bông lúa vàng chỗ đấy không rứt khỏi tâm trí.
Ông giám đốc Nhà máy Hóa chất biết chuyện, một hôm mời ông Khắc vào phòng khách, ngỏ ý sẵn sàng tuyển ông làm chân gác ba-ri-e cổng nhà máy.
- Ông sẽ suốt ngày được ngồi trên khu đất cũ của mình.  – Ông giám đốc nói.
- Vâng. Tôi chấp nhận…
Thế là từ hôm ấy, dân làng Hoài Thuận thấy ông Khắc trở thành người gác cổng. Công việc chẳng nặng nhọc gì, chỉ là nâng lên hạ xuống chiếc ba-ri-e… Và ông thì được suốt ngày nhìn lung linh mơ hồ trong nắng hình ảnh những ngọn lúa vàng thuở trước…
Đại Yên 5 – 2013






      


 vvvvvvvvvvvvvvvv
Gặp lại

Ông Tuyên xuống tắc xi, đi qua lối phố cổ như mê cung, mạng nhện, hỏi thăm số nhà 45 Bis ngõ Mã Mây. Những ngôi nhà gạch từ đầu thế kỷ, hai tầng, tróc lở, không được phép sửa chữa, vì trong diện bảo tồn. Người “hiện đại” phải ở trong tiện nghi thời cổ. Tiếng chuông reo một nhịp, cửa mở, ông Tuyên hồi hộp:
- Bà là bà Trầm?
- Dạ vâng... ông là...
Hai ông bà cùng reo. Vừa đoán vừa nhận ra nhau. Căn phòng nhỏ xúi, đầy ắp đồ đạc, gác lửng thấp lè tè trên đầu. Bà Trầm tóc bạc phơ nhưng da hồng hào, người đậm đà. Còn ông Tuyên thì đĩnh đạc phong độ, duyên dáng với chiếc mũ phớt trên đầu.
Chủ nhà tíu tít pha trà, mở bia, bày hoa quả, bánh kẹo...
- Ông mới ở Mỹ về...?
- Vâng. Tôi về đầu tháng, hôm nay có dịp đến thăm bà.
- Cám ơn ông. Thế bà nhà ta có về không ạ?
- Không. Nhà tôi không về được, nhưng gửi lời hỏi thăm bà, và có quà biếu bà...
- Bà chu đáo quá. Em cám ơn. Thực ra thì em và bà đã gặp nhau lần nào đâu.
- Bà ở đây một mình? Các cháu ở riêng cả?
- Dạ vâng. Cháu đầu ở Sài Gòn. Cháu thứ hai ở Hà Nội. Nhưng em thích ở riêng một mình, nhà cũ phố cổ này, quen rồi, gần gặn ,chẳng muốn ra chung cư xa.
- Ông nhà ta...
- Nhà em mất cách đây mấy năm rồi.
- Trông bà, dù già, vẫn có nét của ngày xưa.
- Trông ông cũng vậy. Chẹp. Nhanh quá ông nhỉ. Mới đấy với đấy mà đã hết một đời người. Ông năm nay 72 tuổi nhỉ. Còn em 75. Em vẫn nhớ hơn ông ba tuổi.
Ông Tuyên cười hì hì:
- Ngày xưa tôi với bà... Năm ấy là năm 1948 bà nhỉ.
*
*    *
Năm 1948, ngày ấy cái bé Trầm 16 tuổi, chớm dậy thì, xinh xắn. Một hôm cái bé Trầm vừa đi cấy về đến đầu sân thì thấy trong nhà có khách. Mấy bà xà tích bao sồi, váy lĩnh đang chuyện trò điều gì trang trọng. Một mâm son đầy cau liên phòng với xếp lá trầu không xanh mượt đặt trên ban thờ.
- Con vào chào các bà đi - Bà mẹ bé Trầm gọi.
Linh cảm làm Trầm giật thót.
- Vào đây con - Bố Trầm giục, rồi quay lại phân trần - Cháu có lớn mà chả có khôn, không mau mồm mau miệng - Vào đây cho các bà xem mặt nào...
Trầm chạy ù xuống bếp òa khóc. Trời ơi, người ta đến dạm hỏi Trầm. Nhưng là ai? Dạm hỏi cho ai? Sao bố mẹ không nói gì với Trầm một lời.
Những bà mối dạm hỏi ra về rồi, mẹ Trầm mới xuống bếp:
- Mẹ gả con cho thằng Tuyên con ông Tân. Nhà ấy "so gốc rạ" môn đăng hộ đối với nhà mình.
- Trời ơi, thằng Tuyên còn "thò lò mũi" mẹ ơi - Trầm khóc to.
- Cái gì đấy - Bố Trầm xuống, tay cầm cái roi mây, mắt lừ lừ - Mày khóc cái gì. Hàng xóm nghe thấy rồi đến tai nhà người ta, thì tao còn mặt mũi nào nữa.
- Nó chê thằng Tuyên còn "thò lò mũi" - Mẹ nói.
- Nó 13 tuổi rồi. Tao đã nhờ "Ông thầy" xem. Mày 16, nó 13, là hợp tuổi.
- Nhưng sao...
- Sao với giăng gì. Chúng mày trẻ ranh biết cái gì. Nói trước với mày, mày chối đây đẩy, mày khóc làm "dông" cả đời à. Tao tính chán rồi chứ mày tưởng. Bên nhà ông Tân hiền lành, thằng Tuyên đang học tiểu học, nghe nói học giỏi. Người ta có ruộng nhưng neo người làm, muốn kén con dâu lớn tuổi về nuôi chồng ăn học thành tài. Mày rồi thì rất sướng. Gái có công, chồng chẳng phụ. Sau này nó thành ông Ký, ông Phán, mày thành bà Ký bà Phán
Mẹ Trầm cười khì khì:
- Thế mà lại còn khóc
 Ông Bố tiếp:
- Hôm nay nó bé. Nhưng vài năm nữa nó lớn, chứ nó bé mãi à, con ngu.
Trầm chùi nước mắt:
- Nhưng bố mẹ phải hỏi con một câu chứ. Nhỡ bố mẹ gả con cho thằng sứt môi lồi rốn, con cũng phải chịu à...?
Mẹ Trầm cười khanh khách. Ông bố cũng mủm mỉm.
- Đẹp có mài ra mà uống… "So gốc rạ" thì...
- "So gốc rạ" là cái gì mà mẹ cũng nói, bố cũng nói.
- Rõ thật con đần, lớn xác bằng ấy mà còn không biết. Tức là số ruộng nhà nó có, so với nhà mình. Các cụ không nói số sào, mẫu, mà nói bằng hình ảnh các gốc rạ, gốc lúa.
Trầm bĩu môi:
- Thế con nhà nghèo thì ế à?
- Nhà nghèo lại lấy nhà nghèo.
So gốc rạ nhà mình có 1 mẫu 5 sào, nhà Tuyên có 1 mẫu 6 sào. Thế là môn đăng hộ đối.
- Con chả cần "so gốc rạ"
- Không so, lấy nhau về chết đói à.
Ở cái làng Ngò Bến này, từ đồi xưa, quen thói tảo hôn. Con còn vắt mũi thò lò, hai bên bố mẹ đã đính hôn, cưới gả cho con, có đám rước dâu, chú rể còn phải cõng. Con gái chưa đến kỳ kinh nguyệt đầu tiên đã có người dạm hỏi. Có đám, đứa trẻ cưới xong ,được hoãn vài năm chờ lớn mới về nhà chồng, nhưng cũng có đám phải về ngay.Vì thế có câu ca rằng:“Lấy chồng từ thuở mười lăm/
Chồng chê tôi bé chẳng nằm với tôi/Đến khi mười tám đôi mươi/Tôi nằm dưới đất chồng lôi lên giường/Một rằng thương hai rằng thương/Có bốn chân giường gẫy một còn ba...”
Hoặc ngược lại: “Bồng bồng cõng chồng đi chơi/Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng...”
Chuyện tảo hôn quá phổ biến, nên thằng bé Tuyên lấy cái Trầm ngày ấy là bình thường. Hôm cưới, thằng Tuyên được tiền mừng tuổi, ra ngay hàng Xén mua bi ve về đánh đáo.
Trầm về làm dâu nhà Tuyên được nửa năm thì một đêm, ông Tân bố Tuyên bí mật rời nhà đi hoạt động Việt minh chống lại phe "Quốc gia". Nhà chỉ còn lại ba mẹ con. Trầm nai lưng ra cày cấy lấy tiền nuôi Tuyên ăn học. Vợ chồng trẻ ranh coi nhau như người dưng nước lã, chả bao giờ nói với nhau một câu. Bữa ăn, ngồi cùng mâm, nhưng chẳng ai nhìn ai. Tối, chồng ngồi học bài đèn lòi lọi nhà ngoài, rồi ngủ luôn trên tràng kỷ. Vợ ngủ trong buồng, nép vào góc giường rộng rênh.
Bất đắc dĩ khi cần nói với nhau thì vợ chồng nói trống không. Đại để kiểu: "Ai ơi ai về ăn cơm/Cơm ai nấu/Nấu chứ ai..."
Có lần Trầm thay quần áo trong buồng, thịt da nõn nà trắng muốt, bắt gặp Tuyên đang dòm qua khe liếp. Bốn mắt giao nhau, Tuyên xấu hổ chạy biến. Lần khác, Trầm tắm cầu ao đêm trăng cũng thấy Tuyên sau bụi chuối nhìn trộm. Mẹ đi vắng, nhà chỉ có hai người, Trầm không mặc áo, cứ để mình trần trắng lóa đẫm ánh trăng, đi vào sân. Nhưng Tuyên vẫn chỉ dám nấp nom.
- Cầm hộ cái khăn ra đây một tý - Trầm gọi bâng quơ. Nhưng Tuyên không dám. Trầm mỉm cười. Chồng Trầm còn bé quá...
Tuyên lên tỉnh học lớp Đệ thất. Trầm gánh gạo lên gửi nhà trọ. Giữa phố xá, các cô gái đi dép săng đan, áo tân thời, tóc phi rê, hình ảnh Trầm chân đất, quần nái đen, áo nâu cánh gián, tóc đuôi gà... làm Tuyên xấu hổ, lảng xa. Bà chủ trọ phải đon đả đón chào thay để Trầm đỡ tủi thân. Lúc ra về, thấy bóng Tuyên đứng đầu phố nhìn mình, Trầm quay lại vét đồng bạc duy nhất trong túi đưa cho chồng:
- Cầm lấy mà tiêu.
Đường về, qua sông, Trầm phải chịu cả tiền đò...
Ngày trước thì Trầm chán, chê chồng bé. Bây giờ Tuyên lên tỉnh học, chê vợ "nhà quê". Hai bên chửa bao giờ thân thiết.
Tuyên học xong Đệ ngũ thì có tin về làng đã bị bắt đi lính “ Quốc gia.” Phe quốc gia tổng động viên, lấy lính chống lại phe Việt minh ,không thì thua to. Việt minh đã quá lớn mạnh. Ngoài phố Hà Nội, "Quốc gia" chăng dây các ngã tư đường phố, thằng thanh niên nào đi qua, chạy ra tóm lấy bắt vào lính. Tuyên lớ xớ ra Hà Nội làm gì đó, đã bị bắt như thế. Có trình độ Đệ ngũ, nên được cho vào trường sĩ quan võ bị Đà Lạt.
Trầm lên nhà trọ trên tỉnh, lấy quần áo sách vở của chồng về...
Hai bên "Quốc gia" và Việt Minh đánh nhau to nhiều trận ở đâu, tiếng đại bác ì ầm về tận làng Ngò Bến. Tin đồn Việt Minh sắp chiến thắng đến nơi. Thầy giáo tiểu học trường làng đọc báo Tia sáng bảo Hội nghị “ Giơ- neo”đã họp xong.
Ngày 27 tháng 7 năm 1954 sẽ là ngày đình chiến. Phe Quốc gia về miền Nam ở. Miền Bắc của phe Việt Minh. Hai bên không đánh nhau nữa.
Quả nhiên ngày 27 tháng 7, ông Tân đi Việt Minh "biệt vô âm tín" mấy năm nay, giờ về làng, vai đeo túi dết quấn khăn mặt bông, quần màu xanh công nhân, áo màu xanh hòa bình, tay cầm quyển Họa báo Liên Xô. Nghe nói ông là Ủy viên Ủy ban một tỉnh nào đó, chức rất to, nhưng trớ trêu thay lại có thằng con giai ở nhà vào trường sĩ quan võ bị Đà Lạt của phe “Quốc gia.” Kiểu này thì trước sau ông cũng bị hạ chức. Quả nhiên, không lâu, không còn thấy ông được đi xe Commăngca đít vuông về làng nữa, mà là đạp xe đạp, lầm lũi, cay cú. Tin đồn ông phải chuyển sang làm chức chuyên thu thuế nông nghiệp, là chức cà là tèng, ai cũng làm được.
Trầm ở nhà chồng bây giờ bị liệt vào thành phần: "Có chồng vào Nam theo địch". Lý lịch rất xấu, cần theo dõi. Bố Trầm gọi con gái bỏ nhà chồng, về nhà mình. Đau đớn, cay cú vì tính sai nước cờ cuộc đời, mộng mơ cho con gái làm bà ký, bà phán, ai ngờ lại thành vợ thằng phản động...
 Miền Bắc sau hòa bình, không còn chiến tranh, cuộc đời phơi phới, riêng Trầm hậm hụi, hẩm hiu. May sao đúng lúc ấy, có một anh cán bộ Ủy viên ủy ban Huyện về chỉ đạo công tác xã, thấy Trầm xinh đẹp, người chắc lẳn như cơm nắm, anh mê tít, nhất định lấy làm vợ. Người khác thì sợ hết vía cái lý lịch “vợ sĩ quan ngụy” của Trầm, nhưng anh là người miền Nam tập kết ra bắc, nên chẳng sợ gì. Tổ chức can ngăn, anh mặc kệ. Nóng tính và phát khùng, anh tuyên bố: “Tôi ra đây, không người quen, thân thích, “Mậu dịch quốc doanh” có lấy vợ cho tôi được không
Họ hàng nhà Trầm quý anh, vì anh cư xử tốt. Đêm chiếu bóng sân đình, anh mua cả nắm vé, đứng đấy, cứ thấy ai hàng xóm nhà Trầm, là biếu. Đám cưới anh, chỉ có ăn kẹo, hút thuốc lá, cơ quan Huyện không ai đến dự. Anh không cần, bất chấp tuốt. Anh bị mất chức Ủy viên, Uy ban, chuyển sang làm cán bộ Thương nghiệp, tức là chân chuyên mua bán hàng hóa, chẳng có ý nghĩa chính trị gì. Nhưng cũng nhờ đó mà anh xin được cho Trầm đi bán hàng mậu dịch trên Huyện. Hình như anh có bạn cũng người miền Nam tập kết, làm chức to trên tỉnh, đồng hương thương nhau, "bao che" cho anh. Nghe đồn sau ngày cưới anh đã bị "giam" một tuần để kiểm thảo. Lấy vợ của sĩ quan ngụy đâu phải chuyện đùa...
Trầm có hai đứa con thì anh được lệnh trở lại miền Nam chiến đấu. Năm ấy là năm 1964, các cán bộ miền Nam tập kết đều lục tục trở về. Đang từ "lý lịch xấu", giờ Trầm thành lý lịch tốt, tốt nhất là đằng khác. Được ưu tiên đủ thứ. Đi học trường Bổ túc công nông, trường Chính trị, để làm cán bộ lãnh đạo. Rồi được chuyển ra Hà Nội, được phân nhà trong phố cổ, con cái vào trường "Học sinh miền Nam" nhà nước nuôi từ bé... Chỉ có điều số Trầm là số “có chồng mà suốt đời chăn đơn gối chiếc”. Số đã vậy, không cựa đằng nào được. Xưa lấy Tuyên phải cô đơn, giờ lấy Huyến (tên người chồng miền Nam) cũng phải cô đơn. Vò võ ở một mình. Huyến đi chiến đấu trong Nam suốt 10 năm, không tin tức. Dù “công tác có tiến bộ” đến mấy thì đàn bà con gái ở vò võ một mình cũng khổ. Trầm nén chặt nỗi khát khao nhục cảm thời thanh xuân trong danh vọng vợ người đi chiến trường xa. Trầm gầy đét đi như cá rô đực, vú tóp lại, và thăng chức đều đều, bằng chiến sĩ thi đua treo đầy nhà.
Giải phóng miền Nam 1975, thống nhất đất nước, Huyến, chồng Trầm trở về, da vàng ệch sốt rét, cổ quấn khăn rằn, trong người còn hai mảnh đạn chưa gắp ra được. Anh là niềm tự hào của cả phố vì ngực đầy huân chương, vì là người đầu tiên trong phố có xe máy Honđa, quạt máy, cát xét Naxionna, ti vi Sanyo, tủ lạnh Shap.
Anh làm chức gì đó khá quan trọng trong Ủy ban thành phố, nhưng chỉ được vài năm thì đến tuổi phải về hưu. Tuy vậy anh vẫn còn kịp cùng vợ đẻ thêm một đứa con nữa, và Trầm đã "nở thịt da" sau sinh, béo lại, vú phồng to... cũng như tính tình bớt khô cứng.
Trầm về hưu cùng một đợt với chồng, chỉ còn sinh hoạt trong chi bộ tổ hưu đường phố, chủ yếu vận động không vứt rác ra đường, và đề đạt cấp trên sửa chữa đường xá, cống rãnh, nhưng xem ra chẳng mấy khi có kết quả, vì hình như mục này thuộc Dự án của bọn nước ngoài đầu tư, mà bọn này nó không chịu học tập nghị quyết chi bộ đường phố...
Một hôm Trầm về quê, nghe tin Tuyên đang bị tù tại trại giam miền núi Nước Vàng cách Hà Nội 100 cây số. Tuyên là đại tá trong quân đội Sài Gòn cũ, đang "học tập” tại đây. Ngày 30 - 4 - 1975, Tuyên không chạy thoát sang Mỹ.
Trầm thấy lòng xao động. Suốt mấy chục năm nay, Trầm đã quên đứt Tuyên. Không hiểu sao, nghe tin này,  Trầm bỗng nghĩ vẩn vơ. Sống lại kỷ niệm một đoạn đời thơ trẻ, từ buổi bố Trầm cầm cái roi mây xuống bếp, đến những gánh gạo lên tỉnh nuôi Tuyên ăn học.
Trầm cười cười kể lại với Huyến như kể một chuyện cổ tích. Huyến bảo:
- Người ta gặp bước hoạn nạn do đường đời, số phận. Anh nghĩ là nếu em đến thăm anh ta, anh sẽ không phản đối. Người trong tù thường thối chí, chán đời, tuyệt vọng. Có người đến thăm sẽ động viên, an ủi, nâng đỡ tinh thần người ta tin yêu vào cuộc sống, hướng thiện. Người ta sẽ bớt cảm giác bị vùi dập, ném ra ngoài rìa cuộc sống.
- Anh nói thật không?
- Sao không thật.
- Nếu em đi, các con có phản đối không?
- Các con càng thấy mẹ là người nhân ái, đáng kính phục hơn.
Thế là Trầm, nguyên phó bí thư Đảng ủy cơ quan, tay xách nách mang quà cáp đến trại giam.
- Cho biết quan hệ với "thành viên trong trại", Đại úy Công an thường trực, khi làm giấy tờ, hỏi... - Ví dụ như là vợ chồng, anh em, bố mẹ, bạn thân...
"Thành viên trong trại", chữ nghĩa sao mà ưu ái, Trầm nghĩ .Trầm khai quan hệ: là anh em họ. Khi Trầm xuất hiện, Tuyên hoàn toàn kinh ngạc, không nhận ra ai. Mấy chục năm, anh cũng đã quên hoàn toàn Trầm. Phải nói  một lúc, Tuyên mới nhớ ra . Khi nhớ ra rồi, Tuyên rơm rớm:
- Cám ơn Bà. Không ngờ Bà còn nhớ đến tôi.
Hai người nói chuyện khoảng ba mươi phút. Đó là lần đối thoại dài dòng với nhau đầu tiên trong đời hai người, bởi ngày xưa, họ chỉ nhát gừng, trống không với nhau vài câu ,dù gánh gạo lên tỉnh nuôi nhau...
... Ngày 30 tháng 4, trong khi Tuyên thường trực ở đơn vị chiến đấu thì vợ con ở nhà được máy bay trực thăng bốc ra tàu ngoài khơi. Sang Mỹ được nhà thờ Tin lành giúp đỡ, cuộc sống dần ổn định. Hàng tháng vợ Tuyên đều đặn gửi quà thăm nuôi qua đường Bưu điện cho Tuyên. Tuyên cũng sắp mãn hạn "học tập" và theo nghị định đã ký giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam, theo chính sách nhân đạo của cả hai bên, những người "Sài Gòn cũ", sẽ được sang Mỹ đoàn tụ gia đình, sau khi mãn hạn tù.
Chuyến thăm ấy của Trầm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Tuyên. Và đến khi sang Mỹ sau này, Tuyên luôn kể chuyện với mọi người...
... 10 năm nữa lại trôi qua, Tuyên đã ngoài 70 tuổi. Nỗi nhớ quê da diết, thôi thúc Tuyên trở lại làng xưa Ngò Bến, trở lại Sài Gòn, Hà Nội. Việc ấy chẳng khó khăn gì. Và do đó, hôm nay, Tuyên đã có dịp có mặt tại đây, nhà 45 Bis ngõ Mã Mây này...
... Chuông đồng hồ quả lắc cổ kính trên tường điểm 10 tiếng. Tiếng chuông cổ gợi thời gian xưa. Câu chuyện của hai ông bà già vẫn ríu rít. Ông Tuyên ôn lại các kỷ niệm thời xưa, kể chuyện đời sống bên Mỹ, kể kinh nghiệm khắc phục bệnh tuổi già
- Tôi chả có gì biếu bà cả. Chí có ít thuốc. Thuốc Mỹ tốt lắm. Toàn loại thuốc bổ, không cần kê đơn. Bổ tim mạch, tuần hoàn não, xương cốt... Các loại này mỗi ngày bà uống một viên. Uống đều trong ba năm, cũng là lúc thuốc hết hạn sử dụng. Rồi tôi lại gửi về cho bà, nhờ người xách tay, uống một đợt ba năm nữa, rồi cứ thế tiếp theo.
- Còn sống được mấy đợt ba năm nữa hở ông - Bà Trầm đùa.
Nắng ngoài ban công chan chứa. Có tiếng chim gáy cúc cù cu bên bụi trúc. Bà Trầm treo lồng chim này đã lâu. Bà thích tiếng cúc cù cu gợi nhớ cảnh trưa hè nhà quê.
- Để em sắp mâm cơm gạo dự, canh cua đồng, cà pháo muối sổi, đúng kiểu ngày xưa mời ông ăn nhé... - Bà Trầm nói.
Ông Tuyên cảm ơn. Tiếng cúc cù cu ngoài ban công vọng vào nghe buồn da diết. Hà Nội hôm nay sang thu, xao xác nắng vàng.
7-3-2013


 vvvvvvvvvvvvvv