Tháng giêng rộng dài câu Quan Họ

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012




Nguyễn Phan Hách



Hương Vối ngày xưa



                                      Tản văn



      Trụ sở Báo Văn nghệ ngày ấy là một tòa biệt thự thơ mộng bên đường Trần Quốc Toản. Phố vắng. Dàn hoa tigôn che ngoài sân nhỏ. Nơi đây là địa chỉ thân yêu của bao thế hệ nhà văn. Cả nước lúc ấy có một tờ Văn nghệ. Và văn thơ đang ở đỉnh cao thang bậc giá trị tinh thần xã hội…

      Tôi vẫn nhớ cảm giác êm dịu mỗi lần từ tỉnh xa bước chân vào Phòng khách Báo Văn nghệ, được đón tiếp thân tình.

       Phòng khách nhỏ, có một bộ xa lông cổ ,gỗ trắc. Tại đây bao giờ tôi cũng được mời một cốc nước nụ vối nóng ủ trong bình. Vị vối đồng quê thanh khiết và câu chuyện văn thơ cao sang…

      Tôi đang được nói chuyện với ai đây… Hoài Thanh, Nguyễn Văn Bổng, Kim Lân, Võ Huy Tâm, Xuân Quỳnh…người của tòa soạn. Tòa soạn nói là đã nhận được bài của tôi, sẽ đăng vào số này số khác. Lòng tôi rưng rưng, xao xuyến, hàm ơn.

      Trở về tỉnh, tôi chờ, và một hôm nào đó, tờ báo gửi về tận tay. Mở ra, câu chuyện, bài thơ với tên tôi lung linh trang trọng. Cả cơ quan xúm vào trầm trồ. Tôi ấp tờ báo lên ngực như nghe từ trang báo có một nhịp tim đang đập cùng với nhịp tim mình. Và chính lúc ấy, vị nước nụ vối đồng quê của phòng khách Báo Văn nghệ vụt trở về nồng ấm trên môi…

      Thuở ấy, trà hiếm lắm. Quanh năm, tòa soạn nghèo chỉ dùng nước nụ vối mua ở chợ Đồng Xuân. Tất cả các nhà văn Vệt Nam, các cộng tác viên, những người anh cả của tờ báo: Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi… đều đã ngồi nâng ly hương vối đồng quê tại đây, thân tình chỉ bảo đường đi nước bước cho tờ báo. Các anh từ mặt trận về: Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Đỗ Chu, Lê Lựu…đến đây đưa vội những trang bản thảo còn phảng phất hơi súng hơi bom, để tòa báo kịp đăng vào số ngày mai. Các anh cũng ngồi đó, tay ủ ly nước vối nóng, nhấp từng ngụm nhỏ, lắng dịu thanh thản, để ngày mai lại theo xe ra chiến trường…

      Các nhà văn, dù bây giờ, lưỡi đã nếm vị đời tê dại, chát chua, vô cảm, nhưng tôi cam đoan không ai quên hương vối ấy ngày xưa. Nó có gì giống những trang văn bình dị, thanh khiết một thời…

      Tôi được về Báo Văn nghệ làm việc năm 1973. Thỉnh thoảng tôi vẫn cùng anh tạp vụ lên chợ Đồng Xuân mua nụ vối. Có lần anh chuyển qua mua chè bánh, chè bồm thứ cấp, ngang giá tiền. Nước pha lên chua loét, và các khách văn chau mày: giống trà uong trong các đám ma!

      Tòa soạn làm sao mời các cộng tác viên thứ trà văng vẳng tiếng kèn đưa đám này được. Phải trở về với hương vối thôi!

      Hương vối, bây giờ thế mà đã là chuyện của ngày xưa… Còn các bài văn, bây giờ thì sao…

                                                           

                                                      Ngọc Hà 29- 10 - 2011

vantho






Cây đèn



                        Tản văn Nguyễn Phan Hách

      Thằng Cún có tên đầy đủ là Nguyễn Văn Cún rõ ràng trong giấy tờ khai ở nhà ông thư ký hộ lại xã.

      Bác Xã nghĩ nhà mình phận hèn, đặt tên thế là phải, và để cuộc đời này quên đi, không thèm đếm xỉa đến một “con cún”. Quan ôn, quan dịch có về làng thì cũng bỏ qua một cái thằng như thế. Tuy vậy ,bác Xã lại bảo con: Mày muốn không là “Con Cún” thì cố mà học đi. Khi mày có chữ trong đầu thì chả ai dám coi thường nữa. Vì thế thằng Cún quyết tâm học. Ngày ngày cắp sách đến nhà thầy Đồ chăm chỉ. Nó đã  thuộc lòng Tam tự kinh, Ngũ ngôn thi. Chỉ hiềm đêm về nó không có đèn để học. Thuở ấy ,đèn là một cái đĩa sành, đựng dầu lạc, cắm bấc. Ngọn đèn dầu lạc cháy nổ lép bép, thơm phức, ánh sáng chập chờn. Một đêm, học hết một đĩa dầu lạc đầy. Một đĩa ,đủ để xào mớ rau muống, cả nhà ăn ngon lành. Dầu lạc béo ngậy, chưa nhai, rau đã trôi  vào trong cổ họng. Thèm lắm, thế mà cứ phải bóp mồm, bóp miệng để dành cho thằng Cún học. Mỗi khi rót dầu vào đĩa ,mẹ thằng Cún tiếc ngẩn, tiếc ngơ. Rớt ra ngoài một giọt, tiếc như rớt giọt máu đứt tay.

      Ngọn đèn quý giá, nên bà cũng tranh thủ ngồi khâu vá bên con. Ánh sáng như lặn vào theo đường kim mũi chỉ.

      Tháng mười năm ấy, heo may rải đồng, chim ngói bay về, bác Xã quăng lưới bắt được hai lồng chim ngói đeo cườm. Gánh chim lên tỉnh bán, chiều về ,bác Xã cho cả nhà xem chiếc đèn Hoa Kỳ và chai dầu Tây mới mua. Chiếc đèn, bình bằng đồng, bóng thủy tinh trong suốt.Rót dầu, châm lửa, cây đèn bừng lên ánh sáng chói lòa.

          -Ở xứ văn minh,khoa học người ta chế ra chiếc đèn này-Bác Xã nói.

      Vợ bác Xã, thấy chai dầu Tây đầy ắp, định rót ra một ít xào rau. Dầu của xứ Tây chắc ngon lắm. Nhưng vội bịt mũi khiếp vía:

-       Trời ơi, sao mà hôi thế.

Bác Xã cười giảng giải:

-       Dầu này không ăn được.

-       Vậy là thua xa dầu lạc của mình - Bác Xã gái lý sự - Thế thì chả “văn minh”.

Cây đèn Hoa Kỳ tỏa sáng tràn ngập trong nhà ngoài sân. Mọi người ngồi ngây ra ngắm. Bác Xã thò tay vặn một cái gì đó, ngọn đèn nhỏ dần.

-       Ồ, tài nhỉ…

-       Đấy là do cái ‘‘máy ’’- Bác Xã chỉ vào chiếc que sắt bé bằng cái tăm xuyên ngang cổ đèn - Cái máy này có bánh xe ngoạm vào bấc. Khi “máy chạy” bấc bị kéo lên kéo xuống.

-       Ồ tài nhỉ?

-       Ấy máy nó là như thế đấy. Trên đời này mọi sự “văn minh” được, đều là nhờ ở những cái máy!

Thằng Cún mắt chăm chăm. Nó thao tác thử ,để ngọn lửa to hơn ,soi rõ dòng chữ nó đang học: “Hòa giả như hòa đạo. Ngu phu tự thảo lai” (Người giỏi như thóc quý. Người dốt tựa cỏ may).

-       Trông chữ dưới đèn ,nó cứ to lồ lộ ra. Dễ vào đầu lắm bố ạ.

-       Ừ, cố lên con.

-       Có đèn thế này, chả mấy mà con thuộc cuốn “Luận ngữ”.

-       Hai lồng chim ngói của bố đấy con ạ. Bố nhìn ánh đèn mà tưởng như chập chờn bóng hình xao xác của đàn chim ngói vỗ cánh.

-       Cánh chim ngói bay cao. Những dòng Luận ngữ này cũng như có cánh bay trong đầu con.

Hai bố con thằng Cún thi nhau chọn những lời văn hoa hơi khiên cưỡng để ca ngợi ngọn đèn. Biết vậy, nên bác Xã phải hạ một câu “hiện thực”:

-       Nhưng “chó Cún” thì bay hơi khó đấy.

Thằng Cún cười hì hì:

-       Nhưng con sẽ cố.

Từ hôm ấy, đêm nào thằng Cún cũng thức đến khuya. Tiếng gà xao xác gáy làm rung rinh ngọn đèn. Có đêm, cặn dầu lên “hoa đèn”. Hoa hình chiếc lá đề, hơi giống chiếc quạt, chiếc biển “ân tứ vinh quy” trong các đám rước vinh quy bái tổ của các ông Nghè. Thằng Cún bâng khuâng mơ mộng.

      Phải, khi nào có chữ trong đầu, xem ai còn dám gọi nó là Cún nữa không?



                                                            4 -11 - 2011

     


van tho


ĐÔI VE

     (hóa thạch đôi ve trong  hổ phách 40 triệu năm ,vật có thật)

Cách đây 40 triệu năm

Có một đôi ve

Đực và cái

Ân ái

         Với nhau trong rừng

Chuyện này tôi biết rõ…

Chính lúc đó

Có giọt hổ phách rơi

Vào cuộc tình mãnh liệt

Đôi ve thành hóa thạch

Trong hổ phách long lanh

*

Khúc ca giao hoan

Vẫn ngân vang

Từ ấy đến giờ

Khúc ca

Đẻ ra sự sống

Nên muôn đời bất diệt

     1-1-2012

NGUYỄN PHAN HÁCH




van

tho